Đăng bởi: Tống Phước Khải | 13/06/2013

BẠCH TẢN CÁI PHẬT ĐỈNH

BẠCH TẢN CÁI PHẬT ĐỈNH (.PDF)

BẠCH TẢN CÁI PHẬT ĐỈNH

Biên soạn: HUYỀN THANH

Bạch Tản Cái Phật Đỉnh có tên Phạn Sitàtapatra-uṣṇīṣa (dịch âm là Tất đát
bát đát la Ô Sắt Nị Sa) hay Uṣṇīṣa-sitàtapatra (dịch âm là Ô Sắt Nị Sa Tát đát đa bát
đát la). Dịch nghĩa là Bạch Tản Phật Đỉnh, Tản Cái Phật Đỉnh, Tản Phật Đỉnh, Bạch
Tản Cái Phật Đỉnh.
Bạch Tản Cái Phật Đỉnh là cái lọng màu trắng của Phật Đỉnh, biểu thị cho Đức
Tính Đại Bi trắng tinh của Phật
Nhất Tự Đỉnh Luân Vương Kinh có ghi: “Lúc bấy giờ Đức Phật Thích Ca hiện
thân thành Phật Đỉnh Vương (Uṣṇīṣa-rājan) đứng dưới cái lọng trắng, thân hình giống
như một cái lọng trắng che trùm cả 3 ngàn Đại Thiên Thế Giới này”
Do Đức Tính Từ Bi tươi trắng của Phật mà Bạch Tản Cái Phật Đỉnh còn biểu thị
cho sự Dùng Tĩnh Đức của Phật che trùm tất cả Tam Giới )
Trong Mật Giáo, Phật Đỉnh Tôn (Uṣṇīṣa-śpaskatā) là các Tôn Hình biểu hiện
cho sự tối thắng của Phật Trí (Buddha-jñāna) thông qua hình thái Chuyển Luân
Vương (Cakravarttin) thống lãnh 4 Châu thiên hạ do Đức Thích Ca Như Lai nhập vào
Chuyển Luân Vương Tam Ma Địa (Cakravartti-rāja-samādhi) mà thị hiện. Các Tôn
này được bố trí ở bên trái và bên phải của Viện Thích Ca trong Thai Tạng Giới Mạn
Đà La (Garbha-dhātu-maṇḍala). Phía trái có 5 Tôn gọi là Ngũ Phật Đỉnh biểu thị cho 5
Trí của Đức Thích Ca Như Lai, hay 5 Tôn này biểu thị cho Công Đức của Như Lai Vô
Kiến Đỉnh Tướng (Tướng nhục kế của Như Lai không thể thấy biết được)
Trong Viện này, Bạch Tản Cái Phật Đỉnh biểu thị cho mọi tướng của Như Lai,
dùng cái lọng Từ Bi trắng sạch che giúp chúng sinh làm Bản Thệ, có tướng mạo Bồ
Tát rất vui vẻ đoan nghiêm. Thân hình màu vàng. Tay trái cầm hoa sen, trên sen có cái
lọng màu trắng. Tay phải hơi gập cánh tay co đều 5 ngón ngang vai, ngón cái vịn đầu
ngón trỏ. Ngồi Kiết Già trên tòa sen màu đỏ.
Về ý nghĩa của màu sắc thì:
.) Màu trắng tượng trưng cho Tâm tinh sạch, thường dùng để tu Pháp Tịch Tai
(Śāntika_ Tức Tai)
.) Màu vàng tượng trưng cho Phước Đức, thường dùng để tu Pháp Tăng Ích
(Puṣṭika )
.) Màu đỏ tượng trưng cho Uy Đức, thường dùng để tu Pháp Hàng Phục hay
Giáng Phục (Abhicāruka)
Tam Muội Gia Hình của Bạch Tản Cái Phật Đỉnh là cái lọng trắng đặt trên hoa
sen, biểu thị cho Bản Nguyện Dùng tàn lọng Từ Bi trắng tươi để che chở cho chúng
sinh
Mật Hiệu của Ngài là Dị Tướng Kim Cương
Chủng Tử của Ngài là LAṂ (􁜦) có ý nghĩa là Ánh sáng Trí Tuệ che trùm
Pháp Giới chúng sinh đồng thời chữ LAṂ cũng biểu thị cho chân nghĩa Vô Tướng
chẳng thể đắc hoặc Tất cả Pháp Tướng chẳng thể đắc
Tướng Ấn là Bạch Tản Cái Phật Đỉnh Ấn: Chưởng trái hơi mở các ngón tay rồi
úp chưởng xuống. Tay phải nắm thành quyền, dựng đứng ngón trỏ chỉ vào tâm lòng
bàn tay trái thành hình cái lọng
Trong Ấn này thì 5 ngón tay trái biểu thị cho 5 Đại của chúng sinh, còn ngón trỏ
của tay phải biểu thị cho Phật Giới. Ấn này còn có ý nghĩa là Sinh ra cái lọng Bất Nhị
của Phật để che chở giúp đỡ cho chúng sinh.
Chân Ngôn là:
􁚼􁜃 􁝌􁛸􂴼 􁜬􁳉􃪤􃖁 􁜦􃖁 􁝎􁚍􁚌􁛈􁦤 􃂞􃬉􁝀􃖁 􃛿􁝙
NAMAḤ SAMANTA BUDDHĀNĀṂ _ LAṂ _ SITĀTAPATRA UṢṆĪṢA _
SVĀHĀ
hoặc đọc tắt là:
􁚼􁜃 􁝌􁛸􂴼 􁜬􁳉􃪤􃖁 􁜦
NAMAH SAMANTA BUDDHĀNĀṂ _ LAṂ
_ Trong Đạo Trường Kinh lại ghi thêm Đại Ấn Căn Bản của Bạch Tản Cái Phật
Đỉnh , dùng gia trì Pháp Lực cho Đạo Trường là: “Chắp 2 tay lại giữa trống không
(Không Tâm Hợp Chưởng) co 2 ngón vô danh vào lòng bàn tay, đặt mặt 2 ngón cái
trên móng 2 ngón vô danh, co tròn 2 ngón trỏ giống như hình cái lọng”.
Đặt Ấn ngang trái tim, tụng Chân Ngôn 7 lần xong bung Ấn trên đỉnh đầu. Chân
Ngôn là:
Nẵng mạc tam mãn đa bột đà nam, a bát la để hạ đa xã sa nẵng nẫm. Án.
Đát tha nghiệt đổ sắt ni sa, a nẵng phộc lộ cát đề mẫu lật đà, bạc ngật-la phộc la
đề. Án ma ma, hồng, nễ
􁚼􁜃 􁝌􁛸􂴼 􁜬􁳉􃪤􃖁 􁜾􃖁􃅥􁧠􁚎􃇻􃂹 􃗣􁝌􁚽􃪤􃐷􃫘
􃂹􁚙􁗰􁚔􂼻􁝁􁚽􃃆􁜤􁗚􁚒 􃪧􃝄 􁘔􁣰 􃃆􃬬􃖁􃫘 􁛸􁛸 􃜪 􃍅
NAMAH SAMANTA BUDDHĀNĀṂ APRATIHATA ŚASANĀNAṂ (Kính
lễ khắp cả chư Phật và các Bậc nói Pháp không chướng ngại)
OṂ_ TATHĀGATOṢṆĪṢA (Quy mệnh Như Lai Đỉnh) ANĀVALOKITE
MUDRA (Tuân theo Ấn Quán Chiếu) CAKRA VARTTI (Xoay chuyển bánh xe Pháp)
OṂ (Nhiếp triệu) MAMA (Tôi) HŪṂ (Thành tựu) NI (Danh Tướng tốt đẹp)
_ Đại Phật Đỉnh Pháp có ghi thêm Tội Chướng Trừ Ấn là: “10 ngón tay buộc
chặt nhau trong lòng bàn tay (Kim Cương Nội Phộc Quyền Ấn) co 2 ngón giữa như
đỉnh kế”. Tụng Chân Ngôn là:
􁚌􁠼􁚙 􃫘 􃂚􁚼􁜢 􃂚􁚼􁜢 􁜪􁜴􁚤􁜪􁜴􁚤 􁜨􁳠􁜨􁳠 􁜨􁳠􁚾􁜨􁳠􁚾
􁜯􁜐􁜨􁥄􁛉􁚂 􁛔􃪪 􃭽􃂔 􁛔􃪪 􁵙􁝙
TADYATHĀ : OṂ _ ANALE ANALE _ VIŚADA VIŚADA _ BANDHA
BANDHA _ BANDHANI BANDHANI _ VAIRA VAJRAPĀṆI PHAṬ _ HŪṂ
BHRŪṂ PHAṬ _ SVĀHĀ
Quán chữ của Chân Ngôn này sinh ra từ miệng tràn khắp 10 phương Pháp Giới
đều thành Thân Phật, mỗi một thân Phật phóng ra vô lượng ánh sáng gia trì Người
Niệm Tụng. Bấy giờ thân tâm của Hành Giả an vui, đột nhiên được Pháp Minh Đạo
(Đường lối sáng tỏ của Pháp) chẳng chuyển nhục thân, hiện chứng Bồ Đề Vô Thượng.
_ Theo Truyền Thống của Mật Giáo Tây Tạng thì Bạch Tản Cái Phật Đỉnh được
thờ phụng dưới hình thức Bạch Tản Cái Phật Mẫu.
Đức Dalai Lama đời thứ 7 (1708 _ 1757) ghi nhận Tôn Tượng có 3 mặt 6 tay.
Mỗi một mặt đều có 3 mắt. Mặt chính giữa màu trắng, mặt bên phải màu xanh dương,
mặt bên trái màu đỏ. Ba tay bên phải lần lượt cầm cái lọng, mũi tên, móc câu. Ba tay
bên trái lần lượt là: Kết Ấn Phẫn Nộ, cầm cây cung, cầm cây kiếm. Tóc kết thành một
búi ngay trên đỉnh đầu, thân đeo mọi loại trang sức quý báu, mặc quần áo lụa mềm
mại, ngồi Kiết Già ở chính giữa vòng hào quang trong suốt sáng rực.
.) Tay cầm cái lọng: biểu thị cho Tâm Từ Bi trắng sạch che giúp chúng sinh
.) Tay cầm mũi tên: biểu thị cho Pháp bắn các chướng ác của chúng sinh khiến
cho họ tìm được bạn tốt lành
.) Tay cầm móc câu: biểu thị cho nghĩa hô triệu Thiện Thần Long Vương thường
ủng hộ
.) Tay kết Ấn phẫn nộ: biểu thị cho nghĩa giáng phục tất cả Ma Oán
.) Tay cầm cây cung: biểu thị cho nghĩa giúp cho chúng sinh thành tựu sự nghiệp
.) Tay cầm cây kiếm: biểu thị cho Trí Tuệ cắt đứt tất cả phiền não
_Truyền Thống khác ghi nhận Tôn Tượng Bạch Tản Cái Phật Mẫu có 3 mặt, mỗi
mặt có 3 mắt, tóc kết thành một búi trên đỉnh đầu, có các vật báu trang sức. Thân
khoác áo lụa mỏng, mặc quần lụa thêu hoa văn, có 8 tay. Bốn tay bên phải theo thứ tự
cầm cái lọng, chày Tam Cổ Kim Cương, mũi tên, móc câu. Bốn tay bên trái theo thứ tự
cầm cái bình báu, bánh xe 8 căm, cây cung, sợi dây
.) Tay cầm cái lọng: biểu thị cho Tâm Từ Bi trắng sạch che giúp chúng sinh
.) Tay cầm chày Tam Cổ Kim Cương: biểu thị cho sự giáng phục tất cả Nội Ma,
Ngoại Ma, Tâm Ma
.) Tay cầm mũi tên: biểu thị cho Pháp bắn các chướng ác của chúng sinh khiến
cho họ tìm được bạn tốt lành
.) Tay cầm móc câu: biểu thị cho nghĩa hô triệu Thiện Thần Long Vương thường
ủng hộ
.) Tay cầm cái bình báu: biểu thị cho sự rưới Cam Lộ tràn khắp, ban Phước cho
chúng sinh
.) Tay cầm bánh xe tám căm: biểu thị cho nghĩa phát Tâm Bồ Đề, được Bất
Thoái Chuyển và trừ dứt nghiệp luân hồi
.) Tay cầm cây cung: biểu thị cho nghĩa giúp cho chúng sinh thành tựu sự nghiệp
.) Tay cầm sợi dây: biểu thị cho sự trừ khử sự sợ hãi khiến cho được an ổn

(Xem tiếp)

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 13/06/2013

NHẤT TỰ KIM LUÂN PHẬT ĐỈNH

NHẤT TỰ KIM LUÂN PHẬT ĐỈNH

Nhat Tu Kim Luan

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 12/06/2013

SA BÀ TAM THÁNH

SA BÀ TAM THÁNH

Tam Thanh

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 12/06/2013

PHẬT ĐỈNH TÔN THẮNG PHẬT MẪU

PHẬT ĐỈNH TÔN THẮNG PHẬT MẪU

Phat Dinh Phat Mau

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 12/06/2013

BẢO TRÀNG NHƯ LAI

BẢO TRÀNG NHƯ LAI

Bao Trang Nhu Lai

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 12/06/2013

KHAI PHU HOA VƯƠNG NHƯ LAI

KHAI PHU HOA VƯƠNG NHƯ LAI

Khai Phu Hoa Vuong

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 12/06/2013

THIÊN CỔ LÔI ÂM NHƯ LAI

Biên soạn: Huyền Thanh
Đăng bởi: Tống Phước Khải | 12/06/2013

BẤT KHÔNG THÀNH TỰU NHƯ LAI

BẤT KHÔNG THÀNH TỰU NHƯ LAI (.PDF)

Biên soạn: Huyền Thanh

Bat Khong Thanh Tuu

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 11/06/2013

BẢO SINH NHƯ LAI

BẢO SINH NHƯ LAI

Biên soạn: Huyền Thanh

Bao Sinh Phat

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 10/06/2013

A SÚC PHẬT

A SÚC PHẬT

Biên soạn: Huyền Thanh

A Suc Phat

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 10/06/2013

NHIÊN ĐĂNG PHẬT

Biên soạn: Huyền Thanh

 

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 10/06/2013

THÍCH CA MÂU NI PHẬT

 Biên soạn: Huyền Thanh

Thích Ca Mâu Ni, tên Phạn là Śākya-muṇi dịch âm là Thích Ca Văn Ni, XảCa
DạMâu Ni, Thích Ca Mâu Nẵng, Thích Ca Văn…. lược xưng là Thích Ca, Mâu Ni,
Văn Ni. Dịch ý là Năng Nhân, Năng Nhẫn, Năng Tịch, Tịch Mặc, Năng Mãn. Hoặc
xưng là Thích Ca Tịch Tĩnh. Lại xưng là Thích Ca Mâu Ni ThếTôn.
Thích Ca Mâu Ni(Śākya-muṇi) lại được dịch là Năng Nhân Tịch Mặctrong
đó Năng Nhân(Śākya) là dòng họThích Ca và Tịch Mặc(Muṇi) là bậc Đại Thánh.
Nhưvậy Thích Ca Mâu Ni có nghĩa là Bậc Đại Thánh của dòng họThích Ca.
Theo ý nghĩa khác thì Năng biểu thịcho Đại Hùng Lực, Nhân biểu thịcho Đại
TừBi, do Năng Nhân cho nên chẳng trụ ởNiết Bàn. Tịch Mặc biểu thịcho Đại Trí
Giác, do Tịch Mặc cho nên chẳng trụ ởsinh tử. Nhưvậy Hồng danh Thích Ca Mâu
Nibiểu thịcho Bi Trí kèm vận, Chân Tục song dung, Phước Trí viên mãn của Đấng
Toàn Giác.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni(Śākya-muṇi-buddha) là Đức Phật thứtưtrong đời
Hiền Kiếp (Bhadra-kalpa) tại ThếGiới Ta Bà (Sāha-loka-dhātu) và là Đấng mởbày
con đường Chính Pháp Giải Thoát hóa độ (Xem tiếp)

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 10/06/2013

THẬP NHẤT DIỆN QUÁN ÂM

 Biên soạn: Huyền Thanh

 

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 10/06/2013

THÁNH QUÁN ÂM

 Biên soạn: Huyền Thanh

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 10/06/2013

THANH CẢNH QUÁN ÂM

 Biên soạn: Huyền Thanh

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 10/06/2013

ĐẠI NHẬT NHƯ LAI

ĐẠI NHẬT NHƯ LAI

Biên soạn: Huyền Thanh

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 25/05/2013

TÁM ĐẠI BỒ TÁT CỦA PHẬT GIÁO ĐÔNG ĐỘ

TÁM ĐẠI BỒ TÁT CỦA PHẬT GIÁO ĐÔNG ĐỘ

Biên soạn: Huyền Thanh

vanthu

 

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 25/05/2013

NGŨ ĐẠI MINH VƯƠNG

NGŨ ĐẠI MINH VƯƠNG

Biên soạn: Huyền Thanh

minh-vuong

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 24/05/2013

TÁM ĐẠI BỒ TÁT TRONG TẠNG TRUYỀN PHẬT GIÁO

TÁM ĐẠI BỒ TÁT TRONG TẠNG TRUYỀN PHẬT GIÁO

Biên soạn: Huyền Thanh

dilac

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 23/05/2013

TỲ CÂU CHI (BHṚKUṬI) BỒ TÁT

TỲ CÂU CHI (BHṚKUṬI) BỒ TÁT

Biên soạn: Huyền Thanh

ty-cau-chi

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 23/05/2013

TỨ VÔ LƯỢNG TÂM BỒ TÁT

TỨ VÔ LƯỢNG TÂM BỒ TÁT

Biên soạn: Huyền Thanh

tu-vo-luong-tam

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 23/05/2013

BA VỊ BỒ TÁT TRONG HƯ KHÔNG TẠNG VIỆN

BA VỊ BỒ TÁT TRONG HƯ KHÔNG TẠNG VIỆN

Biên soạn: Huyền Thanh

ba-vi-bo-tat

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 23/05/2013

TÁM PHẬT ĐỈNH

TÁM PHẬT ĐỈNH

Biên soạn: Huyền Thanh

phat-dinh

Phật Đỉnh Tôn Thắng
Một trong tám Phật Đỉnh

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 23/05/2013

SÁU VỊ ĐỊA TẠNG BỒ TÁT

SÁU VỊ ĐỊA TẠNG BỒ TÁT

Biên soạn: HUYỀN THANH

dt

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 22/05/2013

NGŨ KẾ VĂN THÙ & TÁM VỊ ĐỒNG TỬ

NGŨ KẾ VĂN THÙ & TÁM VỊ ĐỒNG TỬ

Biên soạn: HUYỀN THANH

vanthu

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 22/05/2013

BÁT NHÃ BỒ TÁT

BÁT NHÃ BỒ TÁT (.PDF)

Biên soạn: Huyền Thanh

bat nha

Biên soạn: HUYỀN THANH

Bát Nhã Bồ Tát, tên Phạn là Prajñā-pāramitā, xưng đầy đủ là Bát Nhã Ba La Mật
Đa Bồ Tát, dịch ý là Trí Tuệ vượt qua bờ bên kia.
Bát Nhã Bồ Tát là vị Bồ Tát rất đặc biệt của Mật Giáo. Đấy là đem Trí Tuệ
(Prajña) tinh thông vạn sự của Đức Phật, nhân cách hóa mà thành.
Bát Nhã Bồ Tát lại xưng là Bát Nhã Phật Mẫu, đại biểu cho Chính Pháp Luân
Thân (Saddharma-cakra-kāya) của Đại Nhật Như Lai (Vairocana-tathāgata).
_Trong viện Trì Minh thuộc Thai Tạng Giới Man Đa La thì Tôn này là quyến
thuộc của Thiên Thủ Quán Âm, có thân màu thịt, đầu đội mão báu, thân khoác giáp
trụ, có ba mắt 6 cánh tay. Bên trái: Tay thứ nhất co khuỷu tay cầm Phạn Khiếp để
ngang ngực, tay thứ hai ngửa lòng bàn tay để dưới rốn; tay thứ ba ngửa lòng bàn tay co
ngón vô danh, ngón cái đè trên đầu ngón vô danh và duỗi 3 ngón còn lại. Bên phải: tay
thứ nhất tác ấn cầm hoa sen, tay thứ hai duỗi để trên đầu gối; tay thứ ba co cánh tay,
dựng lòng bàn tay, co ngón vô danh, ngón cái đè trên đầu ngón vô danh và duỗi 3 ngón
còn lại, ngồi ngay thẳng trên hoa sen đỏ.
Ba con mắt đại biểu cho Đức đặc biệt của ba Bộ: Phật Bộ, Liên Hoa Bộ, Kim
Cương Bộ. Sáu cánh tay biểu thị cho một thân có đầy đủ 6 Ba La Mật.
Mật Hiệu là: Đại Tuệ Kim Cương.
Chữ chủng tử là Jña (􃫦) .
Tam Muội Gia Hình là: Phạn Khiếp (rương Kinh Phạn).
Tướng Ấn là Phạn Khiếp Ấn: Tay trái duỗi năm ngón bằng phẳng, ngửa đặt dưới
trái tim, đem tay phải che ở trên tay trái.
Chân Ngôn là:
_􃫘 􃮴 􁩃 􁩅􁚌 􁜪􁘬􁜊 􃛿􁝙
Oṃ_ dhīḥ śrī śrūta vijaye svāhā
_Trong Viện Hư Không Tạng của Thai Tạng Giới Man Đa La thì Tôn này là
một trong mười Ba La Mật Bồ Tát, được sinh ra từ Trí Đức trang nghiêm của Hư
Không Tạng Bồ Tát, và thành quyến thuộc của Bát Nhã Bồ Tát.
Tôn này có thân màu thịt, tay phải để cạnh eo cầm cây kiếm. Tay trái dựng lòng
bàn tay, co ngón trỏ ngón giữa và duỗi giương 3 ngón còn lại. Hơi dựng đầu gối phải,
khoác áo cà sa.
Mật Hiệu là: Đại Tuệ Kim Cương
Chữ chủng tử là: Dhī (􁚳), hoặc Pra (􃛺)
Tam Muội Gia Hình là: Cây kiếm báu
Tướng Ấn là Phạn Khiếp Ấn:
Chân Ngôn là:
􃫘􃖁􃮴 􁩃􃖁 􁩅􁚌 􃍢􁘬􁜊􃖁 􃛿􃏆
Oṃ_ dhīḥ śrī śrūta vijaye svāhā
_Trong Kinh Nhân Vương Bát Nhã thì Kim Cương Ba La Mật Đa Bồ Tát
(Vajra-pāramitā-bodhisatva) đồng Thể với Tôn này.
_Mật Giáo Tây Tạng thờ phụng Bát Nhã Bồ Tát qua các Tôn Tượng có hai tay,
bốn tay và xưng là Bát Nhã Phật Mẫu.
Tu trì Pháp Môn của Bát Nhã Ba La Mật Bồ Tát sẽ hay chứng được Trí Tuệ viên
mãn của Bát Nhã Ba La Mật mà ngộ giải Pháp của Thế Gian với Xuất Thế Gian.
Thông đạt rộng lớn 5 Minh của Bồ Tát là: Thanh Minh (Śabda-vidyā), Công Xảo
Minh (Śilpa-karma-vidyā), Y Phương Minh (Cikitsā-vidyā), Nhân Minh (Hetuvidyā),
Nội Minh (Adhyātma-vidyā).
21/05/2013

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 21/05/2013

THẬP BA LA MẬT BỒ TÁT

THẬP BA LA MẬT BỒ TÁT

Biên soạn: HUYỀN THANH

image001

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 21/05/2013

Ý NGHĨA 89 TÊN PHẬT TRONG HỒNG DANH BẢO SÁM

Ý NGHĨA 89 TÊN PHẬT TRONG HỒNG DANH BẢO SÁM

Hán Văn: Trích trong Đại Sám Hối Văn Lược Giải của Sa Môn THƯ NGỌC

Việt dịch: HUYỀN THANH

kimcanglaocuongphotanki

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 21/05/2013

THIỆN TÀI ĐỒNG TỬ CẦU ĐẠO GIẢI THOÁT

THIỆN TÀI ĐỒNG TỬ CẦU ĐẠO GIẢI THOÁT (.PDF)

Lược ghi phẩm Nhập Pháp Giới trong Kinh Hoa Nghiêm: HUYỀN THANH

Thien Tai Dong Tu

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 20/05/2013

THẬP TƯỚNG TỰ TẠI ĐỒ

THẬP TƯỚNG TỰ TẠI ĐỒ

thap tuong tu tai

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 20/05/2013

ĐẠI BẢO QUẢNG BÁC LÂU CÁC THIỆN TRỤ BÍ MẬT ĐÀ LA NI

ĐẠI BẢO QUẢNG BÁC LÂU CÁC THIỆN TRỤ BÍ MẬT ĐÀ LA NI

dai bao lau cac

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 20/05/2013

BỒ TÁT

1. ĐẠI CÁT TƯỜNG ĐẠI MINH BỒ TÁT

2. ĐẠI CÁT TƯỜNG MINH BỒ TÁT

3. ĐẠI MINH BẠCH THÂN BỒ TÁT

4. LỤC ĐỘ BỒ TÁT

5. PHẪN NỘ CÂU BỒ TÁT

6. THỦY CÁT TƯỜNG BỒ TÁT

image005

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 20/05/2013

CÁC HÌNH THỨC KHÁC CỦA QUÁN ÂM

  1.  THỦY NGUYỆT QUÁN ÂM

  2.  DIÊN MỆNH QUÁN ÂM

  3.  BẠCH ĐỘ MẪU

  4.  BẤT KHÔNG CÂU QUÁN TỰ TẠI

  5.  BẠCH THÂN QUÁN TỰ TẠI

  6.  HƯƠNG VƯƠNG QUÁN ÂM

  7.  NHẤT KẾ LA SÁT QUÁN ÂM

image001

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 20/05/2013

SƯ TỬ HỐNG QUÁN ÂM

DOWNLOAD FILE PDF

Biên soạn: HUYỀN THANH

Sư Tử Hống Quán Âm (Tên Phạn là: Siṃha-nāda-avalokiteśvara, hay Siṃha-nāda-lokeśvara), được phiên dịch là Kì Hống Quán Âm, Sư Hống Quán Âm, Sư Tử Hống Quán Tự Tại. Là một trong những hóa thân của Quán Âm Bồ Tát, là sự hóa hiện của Quán Âm để giáng phục tất cả bệnh khổ nơi sinh ra Long Ma (Ma của loài Rồng), khiến chúng sinh trong 3 cõi thoát lìa biển khổ, có lực lượng rất là uy mãnh. Tôn này và A Ma Đề Quán Âm được xem là đồng một Thể, đều ngồi cỡi trên con Sư Tử. Tại Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Tạng đều có lưu truyền.

 image001

Sư Tử Hống Quán Âm có thân màu trắng tỏa ánh sáng, đầu đội mão Phật A Di Đà, có tóc kết thành búi trên đỉnh đầu; có 3 mắt 2 cánh tay, tay trái cầm Hoa Sen; Tay phải cầm Tràng Hạt hoặc Kết Dữ Nguyện Ấn, phía sau thân mình còn có cây Kích Tam Xoa, trên cây Kích Tam Xoa có con rắn quấn quanh. Chân phải co chân trái duỗi, ngồi tự tại cỡi trên con Sư Tử trắng. Tay phải cầm Tràng Hạt hoặc Kết Dữ Nguyện Ấn, ý nghĩa là biểu thị cho hay giải trừ nhóm ác của 3 cõi, và thường ban tặng sự Từ Bi cho chúng sinh trong 3 cõi. Tay trái cầm Hoa Sen, biểu thị cho bản thân mình không dơ bẩn.

 image003

Đặc biệt Sư Tử Hống Quán Âm được xem như là một vị thầy thuốc hay cứu độ những người bệnh phong cùi. Mắt Bồ Tát nhìn vào người bệnh và mắt chính giữa (Tuệ Nhãn) tập trung chẩn bệnh. Hai vật báu ở hai bên cũng là những dụng cụ của người thầy thuốc, bên trái có bình thuốc (hay cây thuốc) biểu thị cho năng lực chữa trị, bên phải có cây Tam Kích Xoa có con rắn quấn (hoặc chỉ có con rắn quấn) biểu thị cho sự trừ Tà chữa bệnh.

 image004

Theo truyền thuyết, có một con sư tử sinh được một con nhưng con của nó chết ngay sau khi sinh. Đau đớn quá nó rống lên thật to và nhờ tiếng rống uy dũng này, nó làm cho con nó sống lại. Do vậy, con sư tử đỡ chân cho Bồ Tát được biểu thị cho sự liên hệ giữa tên gọi Sư Tử Hống Quán Âm với nghề nghiệp của người thầy thuốc “gọi người sống lại”.

Từ ý nghĩa này nên trong quá khứ, tại vùng Tây Tạng bị bệnh Ma Phong (bệnh cùi hủi), có rất nhiều hàng Tăng, Tục cúng dường Tôn Quán Âm này.

 image006

_Tu trì Pháp của Sư Tử Hống Quán Âm, ngoài việc hay thu được Công Đức chung của Quán Âm Bồ Tát, lại hay giải cứu được các loại bệnh tật do Rồng độc gây hại như bệnh Ma Phong (bệnh cùi hủi), thu được Công Đức điều phục Long Vương, Pháp ác và Thủy Ma (Ma ở dưới nước), ban cho chúng sinh hạnh phúc an vui.

_Sư Tử Hống Quán Âm Căn Bản Chú:

Namo ratna-trayāya

Namaḥ Ārya-avalokiteśvarāya-bodhisatvāya mahā-satvāya mahā-kāruṇikāya

Tadyathā: Oṃ_ Akaṭe vikaṭe nikaṭe kataṃkaṭe karoṭe karokaṃte veryai svāhā 

_Sư Tử Hống Quán Âm Tâm Chú:

Oṃ_ Aḥ hrī _ siṃha-nāda hūṃ brūṃ aṃ jreṃ khaṃ hūṃ_ Oṃ āḥ hūṃ 

Công Đức của 2 Chú này hay trị tất cả bệnh tật cũng hay trị Long Vương, Thổ Thần….các loại bệnh tật khó trị như chứng bệnh hủi. Chân thành niệm Chân Ngôn này mãn 10 vạn biến thì không có bênh gì không trừ hết được. Do Chú này có uy lực cực lớn, chỉ hay mặc niệm chẳng thể cao giọng. Lại ở bên cạnh giòng nước với sông,biển đều chẳng thể niệm vì sợ làm kinh động đến Long Vương, nhiễu não chúng sinh. Người trì hãy cẩn thận.

07/05/2013

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 19/05/2013

A MA ĐỀ QUÁN ÂM

DOWNLOAD FILE PDF 

Biên soạn: HUYỀN THANH

A Ma Đề Quán Âm tên Phạn là (Avaṭai: nguồn hạnh phúc), lại gọi là A Ma Tai Quán Âm, Am Ma Tai Quán Âm. Dịch ý là Vô Úy Quán Âm, Khoan Quảng Quán Âm, tức là Vô Úy Quán Tự Tại, Vô Úy Quán Âm. Là Tôn thứ 21 trong 33 Thể của Quán Âm. Trong đó, Tôn này ngồi trên tảng đá gối trái dựng thẳng bắt chéo nhau, hai tay để trên đầu gối.

image001

Có người cho rằng Tôn này ương đương với hóa thân Tỳ Sa Môn của Bồ Tát Quán Âm

Theo Thuyết khác thì Tôn này có thân màu thịt trắng, có 3 con mắt và 4 cánh tay, cỡi con Sư Tử trắng, toàn thân tràn đầy lửa rực, mặc áo Trời, anh lạc….đại biểu cho việc trang nghiêm; diện mạo từ bi, trạng thái chuyên tâm chăm chú nhìn về bên trái.

image003

_Quán Tự Tại Bồ Tát A Ma Tai Pháp ghi chép rằng: “Xưa kia, nước Vu Điền có vị Thanh Tín Sĩ (người có niềm tin trong sạch) tinh tâm trì niệm Quán Tự Tại Bồ Tát Chân Ngôn , nguyện thấy Đại Thánh. Trải qua nhiều năm vẫn chẳng thỏa được tâm trước (Túc Tâm), nhưng vẫn nuôi chí chẳng đổi thay, lại còn tinh tiến gấp bội.

Sau này, vào một đêm , nghe trong hư không có tiếng nói là:”Ngươi hãy qua nước lân cận, xin yết kiến vị vua ấy”. Hành Giả y theo lời liền đến nước ấy, nghe Pháp Lệnh của vua rất nghiêm khốc phi thường, hễ ai vi phạm ắt bị hành hình. Người tu hành bèn xin gặp nhà vua. Nhân nhờ người dẫn dắt hỏi han mà bộc bạch ước muốn của mình, nên được dẫn vào Hậu Cung thì thấy nơi ấy như quốc độ của Phật còn vị vua tức là Quán Tự Tại Bồ Tát.

Hành Giả bạch với Bồ Tát rằng:”Đại Thánh trị hóa, khởi dụng hình lục (xử phạt chém giết) thời Đại Bi ở chỗ nào?”

Bồ Tát bảo rằng:”Chúng sinh ở đất này vốn cang cường khó cai quản. Ta thương xót nên dùng đường lối dẫn dụ, phân thân làm vua. Kẻ bị xử phạt chém chết đều là Hóa Nhân (người được biến hóa ra) khiến cho thói quen hung bạo ấy sợ uy mà thuận theo nếp tốt. Nếu Chính Lịnh đã thành thời Ta sẽ ẩn mất”

Hành Giả được nhà vua giữ lại nhiều tháng, thông ngộ Đại Thừa , sau đó xin từ giã quay về. Đức vua mặc nhiên hứa cho.

Người tu hành bạch với Bồ Tát rằng:”Đệ Tử may mắn được gặp Đại Thánh Từ Bi, được thấy nghe Pháp, gần gũi thấm gội Từ Hóa,  12 mùa sau mới được Nghiệm này. Ở đời vị lai, cầu thấy Bồ Tát, chẳng đổi tâm xưa (túc Tâm), siêng năng khổ nhọc lâu dài thì không có chỗ nào không thành. Một khi khởi tâm Nghi, phỉ báng Pháp sẽ bị tội. Nguyện xin Từ Bi bày Pháp Yếu cho đời vị lai”

Bồ Tát bảo rằng:”Ta có chương cú của  A Ma Tai Chân Ngôn (Avaṭai-mantra), nay trao cho ngươi, cúng dường giản dị, lại ngày thời chẳng nhiều, chí tâm tụng trì thì Ta sẽ hiện thân khiến ngươi mãn nguyện.

Người tu hành đã nhận được sự Giáo Hối, từ giã quay về nước của mình lưu truyền. Tín Sĩ (người tin tưởng) chỉ năm ngày được ứng nghiệm. Số ấy chẳng phải một

…Lại nữa, nếu người trì tụng Chân Ngôn này. Ở nơi nhàn tĩnh, hoặc A Lan Nhược, ở trước Tháp Xá Lợi an đặt Quán Tự Tại Bồ Tát, tùy sức cúng dường, trong sạch tắm gội, ăn thức ăn Tịnh, một mình ở Đạo Trường, một này một đêm trì niệm, đến sáng sớm thì Đại Thánh sẽ thấy, các Nguyện mãn túc, mọi người yêu kính, được Túc Mệnh Trí, hay chứng mười Địa, Tam Muội hiện tiền. Nếu phạm tội nặng năm Nghịch thì hai ngày hai đêm sẽ thấy

Bấy giờ vị vua Bồ Tát ấy nói Chân Ngôn đó xong liền bảo Hành Giả rằng: “Chân Ngôn này có Thần Lực lớn, hay diệt tất cả Nghiệp Chướng của chúng sinh, mau được Thần Nghiệm, mong cầu như ý ”

_Quán Tự Tại Bồ Tát A Ma Tai Pháp lại ghi nhận phương cách tu Pháp của Tôn này là: “Nếu người muốn trì Chân Ngôn này, cầu thấy Quán Tự Tại Bồ Tát thời Nghi Quỹ: Kết Hộ, Gia Trì, cúng dường… đều y theo Đại Giáo Tô Tất Địa Kinh với thứ tự đã nói trong Kim Cương Đỉnh Du Già.

Trước tiên nên chí tâm tụng đủ một ngàn biến. Ở nơi thanh tịnh, hoặc A Lan Nhược, hoặc ở núi rừng, hoặc chốn Già Lam thanh tịnh, trước Tháp Xá Lợi như Pháp xây dựng Quán Tự Tại Bồ Tát Đạo Trường, để tượng Quán Âm, tùy theo sức mà tinh thành cúng dường, tắm gội trong sạch, mặc áo sạch mới, cẩn thận giữ che ba Nghiệp, đừng quên vui giận. Một ngày một đêm, ở một mình, cắt đứt tất cả việc nói năng, tâm chẳng theo Duyên khác, chuyên tưởng Quán Âm, tâm chẳng gián đoạn, tụng Chân Ngôn này. Đốt Trầm Thủy Hương, hoặc đốt Ngũ Vị Hòa Hương, đừng để cho khói hương chấm dứt, niệm niệm liên tục, một lòng cầu thấy Bồ Tát.

Ở bốn góc của Đàn đều để một thứ thiêu đốt. Lại đều để một cái chén nước thơm, một là nước uống Thạch Mật (Thạch Mật Tương), một là sữa bò sạch, một là nước Uất Kim Hương, một là nước Bạch Đàn Hương như thường. Cúng dường bánh, quả, cháo, cơm… đều nhau. Sáng sớm hiến cơm ăn, riêng ngày Trai thời nên gom lại bỏ ở chỗ an tịnh , bố thí cho các loài chim quạ.

Lại bên dưới, làm thức ăn uống cúng dường mới… đến lúc mặt trời sắp lặn thời dựa theo lúc trước Tống Khước (tiễn đi)

Lại bên dưới, vật mới tạo thành, cúng dường cho đến trời sáng, trong một ngày đêm chẳng được để cho bị hôn trầm, lười biếng, sợ khó… sẽ được thấy.

Lại tưởng trong Hào Tướng (sợi lông trắng xoáy vòng ở tam tinh) có hai luồng ánh sáng, một  luồng vào thẳng trong các Địa Ngục cứu chúng sinh bị khổ khiến được giải thoát, một luồng nhập vào đỉnh đầu của người tu hành. Tưởng khắp thân mình, mọi ác các nghiệp thảy đều tiêu trừ, trong ngoài thanh tịnh.

Quán tưởng như vậy, niệm tụng chí tâm ắt được thấy Ta. Ta sẽ vì kẻ ấy hiện thân khiến cho mãn ước nguyện. Ngươi có thể thọ trì . Giả sử đã từng phạm tội nặng, năm tội Vô Gián thì hai ngày hai đêm siêng năng niệm tụng ắt sẽ được thấy, huống chi người vốn thanh tịnh. Chỉ trừ kẻ chẳng chí tâm”.

_Quán Tự Tại Bồ Tát A Ma Tai Pháp lại ghi nhận hình tượng của Tôn này là: “Tượng của A Ma Tai Quán Tự Tại Bồ Tát như hình Bát Nhã Ba La Mật Bồ Tát có ba mắt bốn cánh tay, cỡi sư tử trắng, đầu hướng về bên trái đều nghiêng xuống dưới, đầu đội mão báu, dùng hoa sen trắng nghiêm sức phía trước, hai tay cầm cái đầu con chim Phượng Không Hầu. Một tay bên trái: ngửa lòng bàn tay cầm con cá Ma Kiệt. Một tay bên phải cầm con chim Cát Tường màu trắng. Co chân trái ngay trên háng con sư tử, buông thõng chân phải xuống dưới, dùng Thiên Y Anh Lạc nghiêm sức. Toàn thân tỏa lửa sáng, diện mạo từ bi, hướng về bên trái chân thật quán”.

image005

Thủ Ấn là: Hai tay chắp lại theo thế Phù Dung Hợp Chưởng, hai Phong (2 ngón trỏ) như móc câu để ngang trái tim.

image007

Chân Ngôn là:

Namo ratna-trayāya

Namaḥ Ārya-avalokiteśvarāya-bodhisatvāya mahā-satvāya mahā-kāruṇikāya

Tadyatha: Avaṭai pravaṭai vivaṭai taraṭai saṃpravyeṭai. Ilene kiline kiline, aruhane diruhane, dharane dharane dhapane, avatarane, sarva-tarane, repane arepane, napha napha naphane, naḍa naḍa naṇḍa, neḍo ḍone, sa-mṛdhyaṃ me, aśavana parapuridhaneyaṃ

Namaḥ Ārya-avalokiteśvarāya-bodhisatvāya  svāhā

Ngoài ra, trong “Giác Thiền Sao” có nói về Hình Tượng do Tâm Giác A Xà Lê truyền miệng là: “Bồ Tát ngồi trên Hoa Sen xanh, đội Mão báu có Phật Vô Lượng Thọ. Nhưng Tôn này trên lửa sáng có một vị Phật, tay trái cầm Hoa Sen, trên Hoa có Bảo Khiếp (cái rương Báu), tay phải Kết Thí Vô Úy Ấn”.

Do Tôn này ngồi trên lưng con sư tử trắng nên được xem là đồng thể với Sư Tử Hống Quán Âm (Siṃha-nāda-avalokiteśvara)

image009

08/05/2013

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 19/05/2013

BẤT KHÔNG QUYẾN SÁCH QUÁN ÂM

DOWNLOAD FILE PDF

Biên soạn: HUYỀN THANH

Bất Không Quyến Sách Quán Âm (Amogha-pāśa). Lại xưng là Bất Không Quyến Sách Quán Tự Tại, Bất Không Vương Quán Thế Âm Bồ Tát, Bất Không Quảng Đại Minh Vương Quán Thế Âm Bồ Tát, Bất Không Tất Địa Vương Quán Thế Âm Bồ Tát. Là một trong 6 vị Quán Âm

Bất Không (Amogha) là một tên gọi của Bất Không Quyến Sách Quán Âm, ý nghĩa là chỉ Tâm Nguyện chẳng Không.

Quyến Sách (Pāśa) nguyên là chỉ ở Ấn Độ Cổ Đại, trong lúc chiến tranh hoặc săn bắn dùng dây thừng để bắt Người và Ngựa.

Dùng Bất Không Quyến Sách làm tên gọi, ý nghĩa là tượng trưng cho Quán Thế Âm Bồ Tát dùng sợi dây của Từ Bi, cứu độ hóa đạo chúng sinh, Tâm Nguyện ấy chẳng nhiễm dính sự trống rỗng (bất nhiễm không), nên cũng dùng sợi dây làm Tam Muội Gia Hình.

Tôn này biểu thị cho ý nghĩa Nhiếp Phục chúng sinh, thể hiện Từ Bi rộng lớn của Thệ Nguyện thâm sâu.

Kinh Bất Không Quyến Sách Thần Chú Tâm ghi chép rằng:

“Bấy giờ trong Hội có một vị Bồ Tát tên là Quán Tự Tại từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa soạn quần áo, trật áo bày vai phải, quỳ gối phải sát đất, chắp tay hướng Phật, mặt mắt vui vẻ, nở mặt mỉm cười rồi bạch Phật rằng: “Con có Thần Chú Tâm tên là Bất Không Quyến Sách (Amogha-pāśa). Con ở thời xa xưa cách nay 91 kiếp, thời có Thế Giới tên là Thắng Quán (Vilokitāyaṃ), trong đó có Đức Phật tên là Thế Chủ Vương Như Lai (Lokendra-rāja- tathāgatāya) Ứng Chính Đẳng Giác Minh Hạnh Viên Mãn Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Trượng Phu Điều Ngự Sĩ Thiên Nhân Sư Phật Bạc Già Phạm Đức Phật Thế Tôn ấy thương xót con cho nên vì con nói Đại Thần Chú Tâm. Khi ấy do con thọ trì sức uy thần nên thường vì vô lượng chúng Tịnh Cư Thiên, chúng Tự Tại Thiên, chúng Đại Tự Tại Thiên, Đại Phạm Thiên Vương cùng với Thiên Chúng, vô lượng trăm Trời cung kính cúng dường tôn trọng khen ngợi. Con đều giáo hóa khiến cho họ hướng về Vô Thượng Chính Đẳng Bồ Đề

Con y theo sức công đức như vậy liền được mười ức Bất Không Diệu Trí Thượng Thủ Trang Nghiêm Đại Tam Ma Địa. Do sức Định này, hiện thấy mười phương vô lượng vô số các Thế Giới Phật, tất cả Như Lai với các Chúng Hội.(Con) đều đi đến cúng dường, lắng nghe Chính Pháp, triển chuyển giáo hóa vô lượng Hữu Tình đều khiến cho họ phát tâm hướng về Vô Thượng Giác. Cho nên chẳng thể luận bàn sức của Chú này, hay cứu vô lượng nạn khổ của chúng sinh. Các kẻ có Trí đều nên thọ trì”

Do đó, nên Quán Thế Âm Bồ Tát thị hiện Hóa Thân, lúc dùng Pháp này cứu độ chúng sinh, liền gọi là Bất Không Quyến Sách Quán Âm.

HÌNH TƯỢNG CỦA BẤT KHÔNG QUYẾN SÁCH QUÁN ÂM

Hình tượng của Tôn có nhiều loại: 1 mặt 8 cánh tay, 3 mặt 6 cánh tay, 1 mặt 3 mắt 18 cánh tay, 1 mặt 4 cánh tay (hoặc 32 cánh tay), 3 mắt 2 cánh tay (hoặc 4 cánh tay, 6 cánh tay, 10 cánh tay, 18 cánh tay)….

Kinh “Bất Không Quyến Sách Thần Biến Chân Ngôn” ghi nhận rằng: “Tượng có 3 mặt 6 cánh tay, nói rằng: Mặt chính vui vẻ, mặt bên trái nhăn mày trợn mắt há miệng, răng nanh hướng lên trên, mặt bên phải nhăn mày trợn mắt ngậm miệng. Đầu đội Mão Báu, Mão có Vị Hóa Phật, các tay cầm Hoa Sen, Sợi Dây, Tam Kích Xoa, một tay Tác Thí Vô Úy, một tay nâng Chưởng, (? tay thứ 6 cầm bình Quân Trì) ngồi Kiết Già trên Hoa Sen”

Tây Tạng thờ Tôn Tượng này với tư thế  đứng trên hoa sen

image001

Kinh Bất Không Quyến Sách Đà La Ni Tự Tại Vương Chú, quyển Thượng (Do Sa Môn Thích Quảng Trí dịch) có ghi rằng: “Hình tượng của Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát với thân màu vàng lợt, đầu đội mão hoa, tóc xanh rẽ ra hai bên vai sau trước, mặt mày vui vẻ, phóng trăm ngàn ánh sáng thanh tịnh hơn hết. Mặt có ba mắt, dùng toàn dây lụa trắng cột tréo nơi ngực, dùng da nai che nơi hai vai, trang sức, dùng dây lụa báu cột ở eo lưng. Tôn Giả có bốn tay, tay trái trên cầm hoa sen, tay trái dưới cầm Táo Bình (bình đựng nước rửa) tay phải trên Thí Vô Úy, tay phải dưới cầm xâu chuỗi đều dùng các báu nghiêm sức. Thân mặc áo Trời đứng trên hoa sen, có đại oai đức, Anh Lạc ngắn dài giao nơi cánh tay thòng xuống dưới, dùng các báu làm vòng xuyến. Trên đảnh vẽ Phật Vô Lượng Thọ (Amitāyus)”

 image003

Nơi khác thì thờ Tôn Tượng này ngồi trên tòa sen

  image004

_Trong Quán Âm Viện của Thai Tạng Giới Man Đa La thì Bất Không Quyến Sách Quán Âm có thân màu thịt trắng, 3 mặt 4 cánh tay, mỗi mặt có 3 mắt. Mặt chính diện màu thịt, mặt bên phải màu xanh, mặt bên trái màu đen. Ba mặt biểu thị cho 3 Đức . Bên trái : Tay thứ nhất cầm hoa sen, tay thứ hai cầm sợi dây. Bên phải: tay thứ nhất cầm tràng hạt, tay thứ hai cầm bình Quân Trì.

 image006

Mật Hiệu là: Đẳng Dẫn Kim Cương

Chữ chủng tử là: MO

Tam Muội Gia Hình là: Sợi dây

 image008

_Mật Giáo Tây Tạng thờ phụng Tôn tượng có ba mặt, bốn cánh tay:

 image010

_Tôn Tượng một mặt, bốn cánh tay

image014

_Tôn Tượng một mặt, tám cánh tay: Sợi lông trắng giữa chân mày dựng lên, tay thứ nhất bên trái bên phải chấp lại để ngang ngực. Bên trái: kế đến tay cầm Hoa Sen, tiếp theo tay ở trên gối cầm Sợi Dây, tay thứ tư Tác Dữ Nguyện Ấn. Bên Phải: Tay thứ hai cầm cây Tích Trượng, tay thứ ba ở trên Già (thế ngồi) cầm cây Phất Trần Trắng, tay thứ tư Tác Dữ Nguyện Ấn, rũ các ngón xuống ngửa lòng bàn tay, Ấn bên phải bên trái giống nhau không cầm vật. 2 bàn chân bên trái đè bên phải, mặc Cà Sa làm bằng da Hươu.

 image016

Ngoài ra còn có Tôn Tượng một mặt, tám cánh tay với khí trượng khác như:

 image018

Hai tay phía trước kết Cát Tường Ấn biểu thị cho sự độ khắp chúng sinh được cát tường như ý

Tay cầm hoa sen trắng biểu thị cho sự thành tựu mọi loại Công Đức

Tay cầm chày Kim Cương biểu thị cho sự tồi phục tất cả oán địch

Tay cầm sợi dây biểu thị cho sự nâng cứu chúng sinh từ bất lạc không khiến được an ổn

Tay cầm cung tên báu biểu thị cho sự khiến cho chúng sinh sớm kết được duyên lành

TayThiên Thủ Thiên Nhãn hiển sức tương ứng với Pháp Lực vô biên

Tay cầm Tịnh Bình biểu thị cho sự rưới Cam Lộ tràn khắp, ban Phước cho chúng sinh

 image019

_Tôn Tượng ba mặt, 10 cánh tay:

 image021

_Bất Không Quyến Sách Quán Âm Thủ Ấn:

Hai tay tác Liên Hoa Hợp Chưởng. Hai ngón trỏ, ngón cái cài chéo nhau bên ngoài, duỗi ngón cái phải đền khoảng giữa ngón cái trái và ngón trỏ trái (hổ khẩu). Lại có tên là Liên Hoa Quyến Sách Ấn

 image023

Liên Hoa Hợp Chưởng biểu thị cho gốc của Liên Hoa Bộ, là Tự Tính vốn có của hoa sen mà ngón cái ngón trỏ bốn ngón cài chéo nhau bên ngoài ắt tác quán hoa sen ở đầu sợi dây  (Sách đoan liên hoa quán). Sợi dây biểu thị cho Bản Thể đem bốn loại dây như ngư dân ở Thế Gian câu cá để tế độ chúng sinh cực ác.

Chân Ngôn:

Oṃ_ Amogha-vijaya hūṃ phaṭ 

hay Oṃ_ Amogha-padma-pāśa-krodha akarṣaya praveśaya mahā-paśu-pati, yama, varuṇa, kubera, brahma-veśa-dhara padma-kula-samayaṃ huṃ huṃ

Bí Mật Tiểu Tâm Chú Chân Ngôn

Oṃ_ Padma-dhāra amogha-jayane śru śru svāhā

Phàm người nào như Pháp Thọ Trì Bất Không Quyến Sách Tâm Vương Mẫu Đà La Ni, hiện đời có thể được 28 loại công đức như:

1_Tất cả bệnh đau nhức chẳng thể khiến thân ấy phiền não. Tuy có bệnh đau nhức, nhưng do sức của Phước Nghiệp  nên mau được trừ khỏi.

2_ Thân ấy sáng loáng, da dẻ mềm mại vị diệu…. được nhiều người yêu kính.

3_ Các Căn diều phục

4_ Được nhiều tài bảo, mong cầu tuỳ xứng, chẳng bị kẻ khác cướp đoạt.

5_ Lửa chẳng thể thiêu đốt

6_ Nước chẳng thể cuốn chìm

7_ Vua chẳng thể đoạt được. Phàm Nghiệp đã làm thường được cát lợi

8_ Mưa đá ác chẳng thể gây thương tích, nhiếp chất độc của Rồng ác.

9_ Chẳng bị tai nạn, chẳng sợ gió ác mưa bạo ngược

10_ Nếu người bị sâu trùng ăn lúa mạ. Nên lấy cát, tro, nước… dốc tâm ý chú vào bảy biến rồi kết Giới tám phương, kết khắp cả các phương trên dưới thời tất cả  điều sợ hãi, tất cả trùng độc liền được trừ diệt.

11_ Tất cả Quỷ ác hút tinh khí người, hoặc ở trong mộng kết làm vợ chồng, muốn gây Yểm Mỵ … cũng chẳng thể hại.

12_ Ở chỗ của tất cả chúng ác thường được an vui, tâm luôn kính trọng không tạm buông rời.

13_ Nếu có các Oán sinh khởi ý ác, muốn tìm đến trả thù cũng tự tiêu diệt.

14_ Nếu có người ác muốn đến gây hại thời chẳng thể hại, liền tự lìa bỏ

15_ Tất cả Chú Trớ, tất cả Cổ Đạo liền mau tự nhiếp, chẳng thể gây hại

16_ Giả Nhã Xứ ở trong Chúng rất cứng mạnh

17_ Phiền não của các Hữu chẳng thể ràng buộc quấy nhiễu.

18_ Ngay tại trận địch, mũi nhọn bén gây hại. Một lòng tụng Chú thì thân chẳng bị dính vướng tất cả dao, gậy, cung tên.

19_ Tất cả Thiện Thần thường theo ủng hộ.

20_ Đời đời, chốn chốn thường được chẳng lìa Từ Bi Hỷ Xả

21_ Vào ngày bị chết, Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ hiển tướng Tỳ Kheo hiện trước mặt người ấy

22_ Khi bị chết thời tâm chẳng tán loạn, bốn Đại an ổn, không có các khổ não gây rối thân ấy.

23_ Tuy bệnh trầm trọng quẫn bách cũng không có các thứ rỉ thấm, tiết ra chất ô uế, phân nước tiểu chẳng sạch.

24_ Ngày bị chết, được nghĩ nhớ chân chính, tâm chẳng thác loạn.

25_ Ngày bị chết, chẳng phải úp mặt mà chết

26_ Ngày bị chết, được vô lượng biện tài

77_ Ngày bị chết, muốn sinh vào quốc độ của Đức Phật nào thời tuỳ ý vãng sinh. 28_ Thường được Thiện Tri Thức chẳng lìa bỏ.

 07/05/2013

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 19/05/2013

BẠCH Y QUÁN ÂM

DOWNLOAD FILE PDF

Biên soạn: HUYỀN THANH

Bạch Y Quán Âm tên Phạn là Pāṇḍara-vāsinī, dịch âm là Bán Nõa La Phộc Tất Ninh, Phả Nõa La Phộc Tất Ni, dịch ý là Bạch Xứ, Bạch Trú Xứ. Lại còn gọi là Bạch Xứ Tôn Bồ Tát, Đại Bạch Y Quán Âm, Phục Bạch Y Quán Âm, Bạch Y Quán Tự Tại Mẫu. Là Tôn thứ sáu trong 33 Thể của Quán Âm, trong đó Bạch Y Quán Âm mặc áo mỏng màu trắng, ngồi ở đám cỏ mềm mại  trên tảng đá, tay kết Định Ấn, ngồi Kiết Già. Hình tượng này tương đương với thân Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni trong 33 thân của Quán Âm.

 image001

_“Đại Nhật Kinh Sớ”, quyển 5 ghi chép rằng: “Bán Nõa La Phộc Tất Ninh đặt ở bên phải Đa La (Tārā), dịch là Bạch Xứ. Tôn này thường ở trong Hoa Sen trắng, cho nên dùng làm tên”.

_“Đại Nhật Kinh Sớ”, quyển 10 lại nói: “Bạch tức là Tâm của Bồ Đề, Trụ cũng là Tâm Bồ Đề, tức là Bạch Trụ Xứ vậy. Tâm Bồ Đề này sinh ra từ cảnh giới Phật, thường trụ này hay sinh ra Chư Phật. Đó là Quán Âm Mẫu, tức là Liên Hoa Bộ Chủ vậy”.

Do đây có thể biết, Tôn này thường ở trong Hoa Sen trắng, cho nên gọi là Bạch Xứ  hoặc Bạch Trụ Xứ Bồ Tát.

Lại nữa, do Tôn này trụ ở tâm Bồ Đề trắng tịnh nên xưng là Đại Bạch Y Quán Âm, Bạch Xứ Tôn Bồ Tát, Bạch xứ  Quán Âm, Bạch Y Quán Tự Tại Mẫu. Tôn này biểu thị cho BỘ MẪU của Liên Hoa Bộ (Padma Kulāya) hay sinh ra các Tôn thuộc Liên Hoa Bộ.

_ “Giác Thiền Sao”, “A Sa Phộc Sao” đều cho rằng Tôn này đồng với Diệp Y Quán Âm

_ “Bạch Bảo Khẩu Sao” lại ghi rằng: “Lại toàn thể trú nhập vào trong lá Sen, dùng lá Sen làm quần áo, cho nên có tên gọi là Diệp Y Quán Âm”.

 image007

Hình tượng của Bạch Y Quán Âm, trong Kinh Quỹ đều nêu khác nhau.

_“Đại Nhật Kinh Sớ”, quyển 5 ghi chép là: “Đỉnh đầu đội Mão tóc kết của hàng Trời (Thiên Phát Kế Quan), thân mặc áo màu xanh mỏng, tay trái cầm Hoa Sen nở”.

  image009

_Kinh “Nhất Tự Phật Đỉnh Luân Vương”, quyển 3 ghi nhận: “Tay trái tác Thí Nguyện Ấn, tay phải cầm viên ngọc báu Chân Đa Ma Ni”.

_ “Giác Thiền Sao”có nêu rõ Bạch Y Quán Âm có hình Từ Bi mềm mại, như là Thiên Nữ mặc áo trắng mỏng, tóc trên đầu phủ vải lụa trắng, trên đỉnh đội Tôn Bản Sư A Di Đà, tay trái cầm Tràng Hạt, tay phải cầm Ấn Văn, chân đạp lên Hoa Sen trắng”.

Lại có nêu tay trái cầm Ấn Thược, tay phải cầm cành Dương Liễu, hoặc đứng trên hai Hoa Sen, tay phải cầm Tràng Hạt, tay trái dùng móng ngón cái và ngón vô danh vịn nhau…. Chẳng giống với đồ hình đã lưu truyền.

 image013

_“A Sa Phộc Sao” còn có nói tay trái cầm cây Gậy hoặc sợi Dây, tay phải cầm rương Kinh Phạn Bát Nhã”

_Kinh “Bất Không Quyến Sách”, quyển 8, quyển 9, quyển 30 thì ghi nhận: “Tay trái cầm Hoa Sen, tay phải giơ chưởng hoặc duỗi bàn tay ngửa hướng lên trên”

 image019

Ngoài ra còn có tượng 3 mặt 6 tay, phần nhiều là tượng nuôi con nít nên là đối tượng của những người cầu con. Do đó Tôn này còn có tên là Tống Tử Quan Âm

  

Tây Tạng còn thờ phượng Tôn Tượng của Bạch Y Quán Âm chung với các Tôn

 image022

Trong Quán Âm Viện của Thai Tạng Giới Man Đa La ghi nhận Tôn có thân màu vàng trắng, khoác áo trắng có một mặt hai tay. Tay phải duỗi các ngón ngửa ra hướng xuống dưới thành Ấn Dữ Nguyện (Varada Mudra),  tay trái co lại cầm cành hoa sen trắng. Ngồi Kiết Già trên hoa sen đỏ.

 image024

Mật Hiệu là: Ly Cấu Kim Cương, Phổ Hóa Kim Cương

Chữ chủng tử là PA hay PAṂ

Tam Muội Gia Hình là: Hoa sen hé nở

 image026

Tướng Ấn là:Bạch Xứ Tôn Ấn. Hai tay tác Hư Tâm Hợp Chưởng, co hai ngón vô danh vào trong lòng bàn tay, kèm hai ngón cái chạm hai ngón vô danh biểu thị cho Tôn này là Bộ Mẫu của Liên Hoa Bộ, hay sinh các Tôn trong Liên Hoa Bộ

 image028

Chân Ngôn là:

Namaḥ samanta-buddhānāṃ_ Tathāgata-viṣaya saṃbhave padma-mālini svāhā 

Từ xưa đến nay dùng Bạch Y Quán Âm làm Bản Tôn để tu Pháp cầu thỉnh được Tức Tai, Diên Mệnh… thì gọi là Bạch Y Quán Âm Pháp hoặc Bạch Xứ Tôn Pháp.

07/05/2013

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 12/05/2013

DIỆP Y QUÁN ÂM

DOWNLOAD FILE PDF

DIỆP Y QUÁN ÂM

Biên soạn: HUYỀN THANH

Diệp Y Quán Âm: tên Phạn là Palāśambarī hay Parṇa-śavari, dịch ý là mặc áo lá (bị diệp y). Lại xưng là Diệp Y Quán Tự Tại Bồ Tát, Diệp Y Bồ Tát, Bị Diệp Y Quán Âm là một trong các ứng hóa thân của Quán Âm, là Tôn thứ 22 trong 33 Thể Quán Ấm. Do thân này ở trong lá sen nên xưng là Bị Diệp Y, hay Diệp Y Quán Âm.

image001

Tôn này chuyên trừ các loại bệnh tật, cầu trường thọ, đảo bệnh, an trấn phòng ốc.

Trong 33 Thể của Quán Âm thì Diệp Y Quán Âm ngồi ở đám cỏ trên tảng đá, có người cho rằng Tôn này tương đương với hóa thân Đế Thích của Bồ Tát Quán Âm.

Căn cứ vào Kinh Diệp Y Quán Tự Tại Bồ Tát thì tại Pháp Hội ở Thế Giới Cực Lạc (Sukhavatī), Kim Cương Thủ Bồ Tát (Vajra-pāṇi-bodhisatva) đã thỉnh cầu Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát (Avalokiteśvara-bodhisatva-mahā-satva) tuyên nói Pháp hay trừ khổ não cho tất cả Hữu Tình, ban cho lợi ích an vui của Thế Gian (Loka) và Xuất Thế Gian (Lokottara). Nhân đó, Bồ Tát Quán Tự Tại đã tuyên nói Diệp Y Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đà La Ni hay trừ tai họa cho tất cả hữu tình như: bệnh tật, tằn tiện đói khát, giặc cướp, binh đao, hạn hán, nước chẳng điều hòa, Tú Diệu mất thứ tự. Cũng hay tăng trưởng Phước Đức, quốc giới phong ích, nhân dân an vui.

HÌNH TƯỢNG CỦA DIỆP Y QUÁN ÂM

Trong Quán Âm Viện của Thai Tạng Giới mạn Trà La: Diệp Y Quán Âm có thân màu thịt, tay trái cầm sợi dây, tay phải cầm cây gậy, co dựng đầu gối trái, ngồi trên hoa sen đỏ.

image004

Mật Hiệu là: Dị Hạnh Kim Cương

Chữ chủng tử là: SA

Tam Muội Gia Hình là: cây gậy trên có hoa sen chưa nở

 image006

Thủ Ấn là: Tay phải tác Dữ Nguyện Ấn, tay trái cầm sợi dây

 image008

Chân Ngôn là:

Oṃ_ Palāśaṃbarī hūṃ phaṭ

Hay

Oṃ_ Parṇa-śavarī hūṃ phaṭ

_Kinh Diệp Y Quán Tự Tại Bồ Tát ghi nhận rằng: “Tượng Diệp Y Quán Tự Tại Bồ Tát (Palāśaṃbarī  avalokiteśvara  bodhisattva). Tượng đó làm hình Thiên Nữ, đầu đội mão báu trong mão có Vô Lượng Thọ Phật (Amitāyus-buddha). Dùng lưu ly, vòng xuyến trang nghiêm thân. Thân có hào quang tròn chung quanh dậy lửa mạnh. Tượng có bốn tay, ngồi trên hoa sen. Bên phải: Tay thứ nhất để ngang trái tim cầm lá Cát Tường, tay thứ hai tác Thí Nguyện Thủ. Bên trái: Tay thứ nhất cầm cây búa (Phủ Việt), tay thứ hai cầm sợi dây.

 image009

_ “Bạch Bảo Khẩu Sao” cũng có nêu trong “Bí Tạng Ký” nói rằng: Thân màu thịt trắng, tay trái cầm sợi dây, tay phải cầm Hoa Sen chưa nở. Lại nói tay phải cầm cây Phướng Như Ý.

_Mật Giáo Tây Tạng thờ phượng Tôn này qua danh hiệu Diệp Y Phật Mẫu qua các hình tượng một mặt hai tay, 3 mặt 6 tay

 image015

Dùng Diệp Y Quán Âm làm Bản Tôn, niệm tụng “ Diệp Y Quán Tự Tại Bồ Tát Kinh” có thể khử trừ các loại bệnh tật, chiến loạn, và hay tăng trưởng phước đức, sống lâu không bệnh tật thì gọi là Diệp Y Pháp.

Nếu dùng để xin cho Quốc Vương Đại Thần được sống lâu không bệnh tật, thì xưng là Diệp Y Trấn.

Nếu dùng Pháp Tu này để trấn an nhà cửa thì xưng là Trấn Trạch Pháp.

_Kinh Diệp Y Quán Tự Tại Bồ Tát ghi nhận rằng: “Lại có Pháp. Nếu quốc vương, nam nữ bị nạn lâu dài, nạn đang phát triển, hoặc đoản thọ, bệnh tật vấn quanh, ngủ nghỉ ăn uống chẳng an… đều do nhân duyên đời trước, sinh Ác Tú trực. Hoặc số bị 7 Diệu lấn bức Bản Tú khiến thân chẳng an. Tức ở nơi cư ngụ dùng Ngưu Hoàng viết Chân Ngôn của 28 vị Đại Dược Xoa đặt trên 4 cái bệ.

_ Trước tiên trên cái bệ ở phương Đông đặt Chân Ngôn của 4 vị Đại Dược Xoa, bắt đầu khởi theo hướng Đông Bắc.

.) Đệ Nhất Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, nễ la-già, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ_ DĪRGHA  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

.) Đệ Nhị Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, tô mạt đát-la, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ_ SUNETRA  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

.) Đệ Tam Dược Xoa Tướng là:

Án, bố la-noa ca, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ_ PŪRṆA  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

.) Đệ Tứ Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, Ca tỳ la tế, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ KAPILA  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

_ Trên cái bệ ở phương Nam đặt Chân Ngôn của 4 Đại Dược Xoa Tướng

.) Đệ Nhất Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, tăng già, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ SIṂHA  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

.) Đệ Nhị Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, ô ba tăng già, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ UPASIṂHA  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

.) Đệ Tam Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, Thương xí la , tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ ŚAṄKHARA  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

.) Đệ Tứ Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, nan ná, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ CANDANA  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

_ Trên cái bệ ở phương Tây đặt Chân Ngôn của 4 Đại Dược Xoa Tướng

.) Đệ Nhất Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, ha lị, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ HARI  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

.) Đệ Nhị Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, ha lị kế xa, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ HARIKEŚA  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

.) Đệ Tam Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, bát-la bộc, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ PRABHŪ ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

.) Đệ Tứ Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, Ca tỳ la (? Băng già la) , tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ PIṄGALA  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

_ Trên cái bệ ở phương Bắc đặt Chân Ngôn của 4 Đại Dược Xoa Tướng

.) Đệ Nhất Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, đà la noa, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ DHARANA  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

.) Đệ Nhị Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, đà la nan đà, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ DHARANANDA   ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

.) Đệ Tam Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, ô nễ-dữu nga bả la, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ UDYOGAPĀLA  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

.) Đệ Tứ Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, vĩ sái noa, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ VIṢṆU  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

_ Trên cái bệ ở góc Đông Bắc đặt Đại Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, bán chi ca, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ PAÑCIKA  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

_ Trên cái bệ ở góc Đông Nam đặt Đại Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, bán tả la nghiễn noa, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ PAÑCALA  CAṆḌA  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

_ Trên cái bệ ở góc Tây Nam đặt Đại Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, đá nghi lị, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ SAPTAGIRI  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

_ Trên cái bệ ở góc Tây Bắc đặt Đại Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, hại ma phộc đa, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ HEMAVATA  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

_ Tiếp ở phương dưới, trên tảng đá mà chân chẳng đạp lên, dùi ghi Chân Ngôn của 4 Đại Dược Xoa Tướng để dưới mặt đất ở 4 phương

.) Dưới mặt đất ở phương Đông đặt Dược Xoa Đại Tướng Chân Ngôn là:

Án, bệ mạc, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ BHŪMA  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

.) Dưới mặt đất ở phương Nam đặt Đại Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, tô bộ mạc, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ SUBHŪMA  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

.) Dưới mặt đất ở phương Tây đặt Đại Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, ca la, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ KĀLA  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

.) Dưới mặt đất ở phương Bắc đặt Đại Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, ô ba ca la, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ UPAKĀLA  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

_ Tiếp trên phòng, ở 4 góc đều đặt Chân Ngôn của một vị Đại Dược Xoa Tướng

.) Trên phòng, ở góc Đông Bắc đặt Đại Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, tô lị-dã , tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ SŪRYA  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

.) Trên phòng, ở góc Đông Nam đặt Đại Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, A ngận-nễ, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ AGNI  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

.) Trên phòng , ở góc Tây Nam đặt Đại Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, tô ma, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ _ SOMA  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

.) Trên phòng, ở góc Tây Bắc đặt Đại Dược Xoa Tướng Chân Ngôn là:

Án, phộc dữu, tra chỉ, hồng, nhược, sa-phộc hạ

OṂ_ VĀYU  ṬAKKI  HŪM  JAḤ   SVĀHĀ

Đặt Chân Ngôn xong. Ở vị trí của 28 vị Đại Dược Xoa Tướng, mỗi mỗi đều dùng hương xoa tô một cái Đàn nhỏ. Trên Đàn thiêu đốt Bạch Đàn Hương. Bày hoa tạp, thức ăn uống, đèn đuốc, Át Già… kiền thành khải cáo:

“Nguyện xin 28 vị Đại Dược Xoa Tướng và các quyến thuộc đều trụ Bản Phương hộ trì, thủ hộ cho con (họ tên…) khiến trừ tai họa, việc chẳng lành, bệnh tật. Đạt được sắc thân, tăng trưởng thông tuệ, đầy đủ uy túc đoan nghiêm”

Làm gia trì ấy xong, tức 28 vị Đại Dược Xoa Tướng chẳng dám trái vượt chư Phật như Giáo Sắc của Quán Tự Tại Bồ Tát với Kim Cương Thủ Bồ Tát, ngày đêm ủng hộ, thức ngủ yên ổn được đại uy đức.

Nếu có quốc vương tác Pháp này thì trong nước của vị vua ấy sẽ tiêu diệt mọi tai nạn, đất nước an ninh, nhân dân vui sướng”.

 07/05/2013

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 11/05/2013

DƯƠNG LIỄU QUÁN ÂM

DOWNLOAD FILE PDF

DƯƠNG LIỄU QUÁN ÂM

Biên soạn: HUYỀN THANH

Dương Liễu Quán Âm: là Tôn thứ nhất trong 33 Thể của Quán Âm. Do Tôn này vì lợi ích chúng sinh mà thuận theo nguyện vọng của họ để hiện bày, cũng giống như cành Dương Liễu thuận theo gió bay phất phới mà không thể làm trái nghịch được, nhân đây mới có tên gọi là Dương Liễu Quán Âm. Đặc trưng của Tôn này là tay phải cầm cành Dương Liễu, lấy sự cứu tế bệnh tật mọi người làm Bản Thệ. Do đó trong Kinh Điển có nói: “Nếu muốn tiêu trừ mọi bệnh trên thân, cần phải nên tu tập Pháp thuốc men của cành Dương Liễu”

Hình tượng của Tôn này thường thấy là: Ngồi xổm trên mỏm núi đá, tay phải cầm cành Dương Liễu (có thuyết nói biểu thị cho Tam Muội thuộc tay phải cầm Dương Liễu của Thiên Thủ Quán Âm), lòng bàn tay trái mở ra để ở trước ngực. Hoặc là tay trái cầm cái Tịnh Bình.

 image001

Hình Tượng Tôn này từ xưa phần nhiều là hình vẽ khắc. Tượng Dương Liễu Quán Âm Bồ Tát lưu hành ở thế gian là tay phải cầm cành Dương Liễu hoặc cắm cành Liễu vào trong bình bên phải tòa ngồi, ngồi ngay thẳng trên bàn đá bên cạnh dòng nước.

image005

Sau này hình tượng Dương Liễu Quán Âm còn được minh họa theo tư thế đứng

image008

_ Dương Liễu Quán Âm được xem là tương đương với thân Dược Vương Quán Tự Tại. Tượng Dược Vương Quán Tự Tại này Tướng tốt trang nghiêm, tay phải cầm cành Dương Liễu, tay trái chấp lại để trên vú trái”.

 image012

_ Do Bản Thệ cứu tế bệnh tật cho chúng sinh, nên Tôn này còn được xem là nơi hóa hiện tay cầm cành Dương Liễu trong Thiên Thủ Quán Âm. Nếu có người nào tu Pháp thuốc men của cành Dương Liễu cũng có thể tiêu trừ các loại bệnh nan y.

Tôn này có chữ chủng tử là SA

Chân Ngôn là:

Oṃ_ Vajra-dharma bhaiṣajya-rājāya  svāhā

*) Hệ thống Mật Giáo ghi nhận Pháp tay cầm cành Dương Liễu của Thiên Thủ Quán Âm là:

_Thiên Quang Nhãn Kinh ghi là: “Nếu muốn tiêu trừ mọi bệnh trên thân , nên tu pháp thuốc của nhành Dương Liểu . Tụng Dược Vương Quán Tự Tại , tướng tốt đẹp trang nghiêm như trước. Chỉ có tay phải cầm nhành Dương Liểu, tay trái hiển chưởng đặt trên vú”

Tướng Ấn là: Tay phải co cánh tay, buông các ngón rũ xuống .

Chân Ngôn là: “Án – Phộc nhật la đạt ma (Kim Cương Pháp) Bệ sái nhĩ gia (thuốc) la nhạ gia (hàng vua chúa) sa phộc hạ”.

OṂ – VAJRA-DHARMA – BHAIṢAIJYA-RĀJĀYA – SVĀHĀ.

_Thiên Thủ Kinh ghi là: “Nếu muốn trị các thứ bệnh trên thân, nên cầu nơi tay cầm nhành Dương Liểu”

-Chân Ngôn là: “Án –Tô Tất Điạ, ca rị, phạ rị đa nẫm, đa mục đa duệ, phộc nhật la bạt đà, hạ nẵng hạ nẵng, Hồng phấn tra”

OṂ (Quy mệnh) SUSIDDHI KARI (tác diệu thành tựu) VARDHĀNĀṂ SAMUKTĀYE (tăng trưởng thiện giải thoát) VAJRA-BANDHA (Kim Cương Phộc) HANA HANA (thiêu đốt, đốt cháy) HŪṂ (Hộ khắp) PHAṬ (phá bại)

   Dương Liễu là một loại cây mọc cạnh bờ ao hay bờ nước tắm rửa nên lá liểu hay sanh ra nước mát mẻ. Do đó Dương Liễu biểu thị cho loại thuốc lá mát mẻ (lương dược) dùng để trừ nhiệt ác.

   Quán Thế Âm Bồ Tát dùng bản nguyện Từ Bi xông ướp Thụ Vương (cây vua) nên cầm nhành Dương Liễu tẩy rửa các bệnh trên thân của chúng sanh khiến cho họ mạnh khoẻ.

   Bệnh thường có ba loại bệnh là:bệnh do nghiệp báo, bệnh do bốn Đại chẳng hòa, bệnh do Quỷ Thần gây ra.

   Khi bị Tỳ Xá Na Uy Quỷ gây bệnh thì Quán Thế Âm Bồ Tát dùng nước sạch rửa cành Dương Liễu vẩy lên thân, trừ tất cả các bệnh nhiệt (nóng bức, sốt) khiến cho thân được mát mẻ.

-SAO ghi: “Dùng Nhành Dương Liểu chú 108 biến hòa với nước đem tắm rửa thân thể thì trừ được 444 bệnh (KHẨU ghi là trừ 404 bệnh)

-TẬP KINH ghi: Tất cả bệnh Quỷ đều dùng Dương Liễu màu xanh .

   Muốn thành tựu pháp này. Hành Giả lấy ba nhành Dương Liểu đặt trước Bản Tôn,tác tưởng niệm Chú 108 biến, sau đó hòa hợp với nước sạch trong. Nấu nước xong vẩy lên thân thể thì trừ được các bệnh.

Như KINH nói: 4800 bệnh của Thế Gian, không có gì không trị  được.

 06/05/2013

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 06/05/2013

TỨ TÝ QUÁN ÂM

DOWNLOAD (10 trang, 700kb)

TỨ TÝ QUÁN ÂM

Biên soạn: HUYỀN THANH

Tứ Tý Quán Âm (Tên Phạn là: Caturbhūja-avalokiteśvara), là Tôn Chủ Đại Bi Quán Âm của Tạng Mật, đại biểu cho Đại Bi, Đại Trí, Đại Lực, là pháp môn của người tu theo Mật Thừa. Tôn này có tên gọi là Lục Tự Đại Minh (Ṣaḍ-akṣarī-mahā-vidya) cùng với Văn Thù Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát hợp lại gọi là “Tam Tộc Tính Tôn”. Ngài có địa vị là Hộ Chủ của vùng núi Tuyết, là Bản Tôn tối cao của Tạng Mật và Tạng Địa.

image001

Trong Tạng truyền Phật giáo, Tôn này là Chủ Tôn của Lục Tự Đại Minh Chú “Oṃ maṇi-padme hūṃ” là Chân Ngôn có lợi ích với Công Đức vô cùng rộng lớn cho nên được lưu truyền rất rộng lớn ở các vùng Hán với Tạng.

Các vị Đạo sư Mật giáoTây Tạng đều nhận định rằng: “OṂ MAṆI PADME HŪṂ là tinh túy Trí Tuệ của chư Phật, là tinh hoa của 05 cõi Phật và các vị Thượng sư. Văn tự Thần chú của 06 âm vận thể hiện là nguồn gốc của tất cả sự thiện mỹ, căn nguyên của mọi sự lợi lạc tốt lành, hoàn toàn viên mãn con đường thẳng tắt vượt qua Thế gian, thành tựu sự giải thoát Xuất Thế gian”.

Để cho nhận định trên được rõ ràng hơn, các vị Đạo sư Tây Tạng đã minh họa Lục Tự Đại Minh Chú như sau:

OṂ (ཨོཾ ) màu trắng, âm vận thể hiện Thánh Đức của Quán Thế Âm Bồ Tát được phát ra từ Thần lực du hý tự tại. OṂ là tướng thể của Thiền định viên mãn, hằng diệt trừ tính kiêu ngạo, nhất là tính tự cao của cõi Trời, vì đó là cội nguồn phát sinh phiền não sa đọa (rơi xuống các cõi thấp hơn). OṂ  tiêu trừ kiêu ngạo và nghiệp phiền não. OṂ đồng với hình tướng và công năng uy lực của vua trời Đế Thích (Indra), vị Thánh của hàng Trời. OṂ thể hiện cho Bình Đẳng Tính Trí (Samatā-jñāna) hướng dẫn chúng sinh vượt qua phương Nam vào thế giới Chúng Bảo Trang Nghiêm của Đức Phật Bảo Sinh (Ratna-saṃbhava).

MA (མ ) màu xanh lục,  âm vận tiêu biểu cho công hạnh, phát sinh từ năng lực Thần thông Từ Bi vô ngại của Quán Thế Âm Bồ Tát, thị hiện trước tất cả chúng sinh. MA là tính thể của Nhẫn Nhục Ba La Mật, có công năng tiêu trừ tính ganh ghét đố kỵ đặc biệt đang ngự trị cõi A Tu La (Asura). MA đồng hóa với Tướng và Dụng của Ngài Dũng Hiền (Vīra-bhadra hay Vemacitra), vị Thánh trong hàng A Tu La. MA thể hiện cho ánh sáng của Thành Sở Tác Trí (Kṛtya muṣṭhāna jñāna) hướng dẫn chúng sinh vượt qua phương Bắc vào thế giới Thanh Tịnh Diệu Hạnh Thành Tựu của Đức Phật Bất Không Thành Tựu (Amogha-siddhi).

ṆI (ནི ) màu vàng, âm vận biểu hiện cho Trí Tuệ bao hàm Thân, Khẩu, Ý, Đức và Hạnh. ṆI hoán chuyển bản tính vượt qua Thế gian luân hồi khổ não. ṆI biểu hiện cho năng lực Thần thông Du Hý rộng lớn bao trùm tất cả, tùy duyên thị hiện của Đức Đại Bi Quán Thế Âm. ṆI là tính thể của Trì Giới Ba La Mật, hay diệt trừ sự si mê, là nguyên nhân đưa đến sự sinh già bệnh chết của loài người. ṆI đồng với hình tướng và công hạnh của Đức Thích Ca Mâu Ni (Śākya-siṃha: Thích Sư Tử) hóa thân của những vị Thánh trong loài người. NI thể hiện ánh sáng Trí Tuệ Thần thông diệu dụng, dẫn dắt chúng sinh vào thế giới Thanh Tịnh Viên Mãn của Đức Phật Thứ Sáu là Ngài Chấp Kim Cương (Vajra-dhāra: Trì Kim Cương).

PAD (པད) màu xanh da trời, âm vận tiêu biểu cho bản thân (THÂN) , thể hiện Thần thông du hý bình đẳng vô tận của Đức Đại Bi Quán Thế Âm. PAD là tính thể của Tinh Tiến Ba La Mật có công năng diệt trừ sự vô minh, là nguyên nhân đưa đến các sự khổ đau của cõi Súc sinh. PAD đồng với hình tướng và công hạnh của Ngài Sư Tử Dũng Mãnh (Siṃha-Ugra hay Dhruva-siṃha ), vị Thánh trong cõi Súc sinh. PAD là ánh sáng Pháp giới Thể Tính Trí (Dharma-dhātu-parakṛti-jñāna) hướng dẫn 06 loài chúng sinh đi vào Thế Giới Trung Ương Mật Nghiêm của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na (Vairocana).

ME (མེ) màu đỏ, âm vận của ngôn ngữ (KHẨU) biểu hiện cho năng lực Thần thông an lạc vô tận của Đức Đại Bi Quán Thế Âm ban bố cho tất cả chúng sinh. ME là tính thể của Bố Thí Ba La Mật có công năng tẩy trừ tính tham lam, tham dục, keo kiệt là nguồn gốc sinh ra sự khổ não đói khát của loài Ngạ Quỷ. ME đồng hóa với sắc thân và công hạnh của Tiêu Diện Đại Sĩ (Diệm Khẩu:Jvala-mukha) vị Thánh trong cõi Ngạ Quỷ. ME là ứng hiện của ánh sáng Diệu Quán Sát Trí (Pratyave-kṣana-jñāna) hướng dẫn chúng sinh vượt qua phương Tây đi vào Thế giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà (Amitābha).

HŪṂ (ཧཱུྃ) màu đen, âm vận của ý, biểu hiện cho năng lực Thần thông du hý của Tâm Từ vô tận mà Đức Quán Thế Âm đã nhìn tất cả chúng sinh như con một của Ngài. HŪṂ là tính thể của Trí Tuệ Ba La Mật, có công năng tiêu trừ tính giận dữ và thù hận là nguyên nhân đưa đến quả báo phải chịu cực hình khổ não ở cõi Địa ngục. HŪṂ đồng với sắc tướng và công hạnh của Đức Diêm La Pháp Vương (Yama-dharma-rājā hay Dharma-rāja ), vị Thánh cứu tinh cho chúng sinh trong cõi Địa ngục. HŪṂ là ứng hiện của ánh sáng Đại Viên Kính Trí (Adarśa-jñāna) hướng dẫn chúng sinh vượt qua phương Đông đi vào Thế giới Diệu Lạc của Đức Phật Bất Động (Akṣobhya).

Ngoài ra, các danh sư Tây Tạng còn cho biết rằng 06 chữ này có rất nhiều nghĩa lý nhiệm màu bí mật, không ai có thể hiểu biết hết được. Tuy nhiên, (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 05/05/2013

CHÚ LOẠI (trích CHƯ KINH NHẬT TỤNG TẬP YẾU)

DOWNLOAD (7 trang, 300KB)

Gia Hưng Đại Tạng Kinh_ Tập 19_ No.B044

CHÚ LOẠI

(Trích trong CHƯ KINH NHẬT TỤNG TẬP YẾU)

Hán dịch: Không rõ tên người dịch

Phục hồi Phạn Chú và Việt dịch: HUYỀN THANH

(Ngũ Y Kệ Chú)

_ Lành thay! Áo giải thoát

Áo ruộng phước vô tướng

Đội, phụng mệnh Như Lai

Đời đời chẳng buông lìa

Án, tất đà gia, sa bà ha

Oṃ _siddhāya  svāhā (3 lần)

(Thất Y Kệ Chú)

_ Lành thay! Áo giải thoát

Áo ruộng phước vô tướng

Nay con đội đầu, nhận

Đời đời thường được mặc

Án, độ ba độ ba, sa bà ha

Oṃ_ dhūpa  dhūpa  (đốt hương, rải hương) svāhā (3 lần)

(Đại Y Kệ Chú)

_ Lành thay! Áo giải thoát

Áo ruộng phước vô tướng

Trì tụng Hạnh  Như Lai

Rộng độ các chúng sinh

Án, ma ha ba ca ca ba tra, tất đế, sa ha

Oṃ _mahā bhappaṭa siddhi  svāhā (3 lần)

(Ni Sư Đàn Kệ Chú):

_ Ngoạ cụ, Ni Sư Đàn

Nuôi lớn Tính mầm Tâm

Mở ra lên đất Thánh

Vâng giữ mệnh Như Lai

Án, đàn ba đàn ba, sa hoa

Oṃ _dāmbha  dāmbha  svāhā (3 lần)

(Đăng Điện Tháp Chú) (Chú lên Điện Tháp):

Nam mô tam mãn đa một đà nam. Án, đỗ bà đỗ bà, sa bà ha

Namo  samanta-buddhānāṃ_ Oṃ_ dhūpa  dhūpa  svāhā (3 lần)

Đăng Đạo Trường Chú (Chú lên Đạo Trường): (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 01/05/2013

NĂM UẨN

DOWNLOAD (24 trang, 367 KB)

Trong suốt thời gian chuyển bánh xe Pháp (Dharma-cakra) hóa độ chúng sinh, Đức Phật luôn luôn nhấn mạnh rằng: “Như Lai chỉ dạy có một điều là sự đau khổ sự chấm dứt đau khổ” (P:Dīgha-nikāya, Trung A Hàm)

Thật ra, sự khổ đau chỉ có ý nghĩa trong hiện tại mà thôi, bởi vì quá khứ đã trôi qua và tương lai chưa thật đến, cho nên người tri thức Phật Tử theo đuổi mục đích tối thượng là sự diệt khổ cần phải biết rõ ràng các nguyên nhân gây ra khổ đau và phải nắm vững các phương pháp phá bỏ xiềng xích phiền não vây bủa bản thân mình, cũng như hướng dẫn người khác thực hiện đường lối tu tập Giáo Pháp Giải Thoát chân chính, đồng thời việc làm ấy phải được quan niệm thực hành ngay tại chỗ trên xác thân đang mang này.

Trong thực tế, sự khổ đau phiền não có rất nhiều dạng, nhưng vẫn không ra ngoài sự khổ đau của xác thân và sự phiền não của tâm hồn. Chính vì có xác thân cho nên phải chịu sự bức bách của: nóng lạnh, đói khát, đau yếu, già nua, chết chóc và các tai nạn do thiên nhiên tạo tác (hạn hán, bão tố, lụt lội, động đất, hỏa hoạn…) hay do con người gây ra (cướp bóc, hãm hiếp, giết hại, áp bức, bóc lột, lừa đảo, trộm cắp, hành hạ…). Cái khổ của thân kéo theo cái khổ của tâm là phải tìm cách chống lại nóng lạnh, lo tìm thức ăn uống chống lại sự đói khát, lo chạy tìm thuốc men cứu chữa bệnh tật, lo tìm cách ngăn ngừa sự già nua chết chóc, lo tìm phương cách đối phó với các tai nạn do thiên nhiên hay do con người tạo ra. Ngoài ra còn trăm ngàn nỗi thống khổ khác vây bủa thân tâm như: bực dọc vì xích mích cãi vã xung đột. Sự oán ghét khi ta đối nghịch với người. Sự thất vọng khi mong cầu không vừa ý. Sự chán chường buồn nản chỉ vì niềm vui chỉ thoáng qua rồi mất. Sự chán ghét vì phải chung sống với người, vật, xã hội mà ta không ưa thích. Sự thương mến quyến luyến người, vật, xã hội mà ta ưa thích đã tàn phai. Sự oán hận khi bị bóc lột, áp bức. Sự tủi hận khi thất thế sa cơ. Sự nhọc nhằn mặc cảm trong cảnh nghèo hèn khốn khó. Sự lo sợ vì không muốn mất vật quý…. Và tất cả mọi sự phiền não khổ đau được kết tụ nơi năm Uẩn (Pañca-skandha) là: Sắc (Rūpa: hình thể vật chất), Thọ (Vedanā:cảm giác), Tưởng (Saṃjñā: tri giác), Hành (Saṃskāra: lưu chuyển tạo ứng), Thức (Vijñāna: nhận thức, hiểu biết). Trong đó xác thân thuộc về Sắc Uẩn; còn bốn Uẩn Thọ, Tưởng, Hành, Thức chính là tâm hồn hay tinh thần

Kinh Tạp A Hàm (P: Saṃyutta-nikāya) 21 có ghi: “Kẻ nào vui thích trong năm uần: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Thật ra kẻ đó vui thích với những điều thống khổ và chẳng mong dứt khổ được”

Uẩn (Skandhā): hay Ấm là sự kết hợp chồng chất che mờ Trí Tuệ làm cho ta không nhận biết được thật tướng của sự vật, cũng như không thấu tỏ được bản thể Như Như và từ sự mê lầm này đã phát sinh lòng tham ái chấp thủ về cuộc sống, đồng thời sự phiền não khổ đau nương vào đó nảy sinh.

_Sắc (Rūpa): biểu thị cho phần vật chất (Sắc Pháp) gồm có bốn Đại Chủng (đất, nước, gió, lửa), các giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), các đối tượng của giác quan (hình sắc, âm thanh, mùi ngửi, vị nếm, cảm xúc va chạm, pháp cảnh).

Sắc có tính biến ngại nghĩa là luôn luôn biến đổi thể trạng và tạo nên các chướng ngại. Do đó mọi hình sắc (Rūpa:sắc), âm thanh (Śabda:thanh), mùi ngửi (Gandha:hương), vị nếm (Rasa: vị), cảm xúc va chạm (Spraṣṭavya: xúc) thường xuyên vận động lưu chuyển trao đổi, hòa hợp cùng nhau tạo thành muôn hình muôn tượng, đồng thời muôn hình muôn tượng này lại được lưu giữ trong tâm tạo nên vô biểu sắc của Pháp Cảnh (Dharma: Pháp). Vì không nhận biết được hình thể vật chất chỉ là Duyên khởi như Huyễn, chỉ tạm hòa hợp để hiện hữu chứ không có Tự Tính riêng biệt nên chúng sinh thường nhận thấy hình thể vật chất là có hình tướng hoặc không có hình tướng, rồi chấp trước cho là tướng trạng đó thật có hay thật không, và sự cố chấp này đã che lấp Trí Tuệ làm cho ta không nhận chân được thật tướng của Sắc. Lúc đó các Sắc chất sẽ chồng chất lên nhau và phối hợp với sự cố chấp ấy tạo thành Sắc Uẩn (Rūpa-skandha).

Khi Sắc Uẩn được hình thành thì các Sắc chất sẽ xâm nhập vào tâm, khơi động những trạng thái tùy thuộc Sắc Uẩn, làm phát sinh Luyến Ái Ngã Chấp về đời sống đồng thời sự đau khổ phiền não nương vào đó nảy sinh.

 .)Như khi mắt nhìn thấy một hình sắc: nếu có sự ưa thích sẽ phát sinh lòng Tham (Rāga), nếu không vừa lòng sẽ phát sinh lòng Sân (Dveṣa), nếu (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 29/04/2013

ĐẠI PHẬT ĐỈNH THỦ LĂNG NGHIÊM TÂM CHÚ (LANTSA)

OṂ ANALE VIŚUDDHE VAIRA VAJRA DHĀRI BANDHA BANDHANI VAJRAPĀṆI PHAṬ HŪṂ ṬRŪṂ PHAṬ SVĀHĀ

OṂ ANALE VIŚUDDHE VAIRA VAJRA DHĀRI BANDHA BANDHANI VAJRAPĀṆI PHAṬ HŪṂ ṬRŪṂ PHAṬ SVĀHĀ

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 29/04/2013

TỰ VIẾT THỦ LĂNG NGHIÊM TÂM CHÚ

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 25/04/2013

TỰ VIẾT CHÚ TỲ LÔ CHỮ LANTSA

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 23/04/2013

TÔ TẤT ĐỊA YẾT LA CÚNG DƯỜNG PHÁP

Mật Tạng Bộ 1_ No.894A (Tr.692 _ Tr.697)

TÔ TẤT ĐỊA YẾT LA CÚNG DƯỜNG PHÁP

Hán dịch: Đại Đường_Trung Ấn Độ Tam Tạng THIỆN VÔ ÚY
Việt dịch: Sa Môn THÍCH QUẢNG TRÍ
Sưu tập Thủ An và phục hồi Phạn Chú : HUYỀN THANH

1. QUYỂN THƯỢNG

2. QUYỂN TRUNG

3. QUYỂN HẠ

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 21/04/2013

TỰ VIẾT NGŨ BỘ CHÚ CHỮ LANTSA

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 19/04/2013

KINH NHUY TỨ GIA (GUHYA TANTRA)

Mật Tạng Bộ 1_ No.897 (Tr.760_Tr.764)

KINH NHUY TỨ GIA

(Sarva-maṇḍala-sāmānya-vidhāna-guhya-tantra)

[Cũng có tên là NGỌC TỨ GIA KINH (Guhya-tantra)]

Hán dịch: Đời Đường, chùa Đại Hưng Thiện, Khai Phủ Nghi Đồng Tam Ty, Thí Hồng Hô Khanh_Tam Tạng Hoà Thượng phụng chiếu dịch

Việt dịch: HUYỀN THANH

1. QUYỂN THƯỢNG

2. QUYỂN TRUNG

3. QUYỂN HẠ

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 18/04/2013

NGŨ BỘ CHÚ TRÊN HÒN ĐÁ ĐỀN HÙNG

Ngũ Bộ Chú

Ngũ Bộ Chú trên đá ở đền Hùng

DOWNLOAD SÁCH QUÁN ÂM NGŨ BỘ CHÚ (190 trang, 1.7MB)

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 16/04/2013

HỌC TIẾNG SANSKRIT QUA KINH A DI ĐÀ #9

DOWNLOAD BÀI HỌC SỐ 9

Jetavane’nāthapiṇḍadasyārāme

trong vườn cây Kỳ Đà, trong đất của Cấp Cô Độc

Trong JetavaneAnāthapiṇḍadasyārāmevaneārāme đều kết thúc bằng -e, nó đánh dấu chức năng địa điểm và được dịch là trong. Các từ như vana-ārāma– với gốc –a đều sử dụng hậu tố -e để dịch ra là trong, tại, .

Vật cúng dường được đặt tên của hai thí chủ bằng hai cách khác nhau trong tiếng Sanskrit, bằng cách sử dụng một từ dài hoặc 2 từ dài. Jatavana, vườn cây Jeta, thì tất cả nằm trong một từ, nhưng có thể phân tích ra là vườn cây của Jetṛ. Anāthapiṇḍadasyārāma là hai từ bao gồm Anāthapiṇḍadasya ārāma chúng được viết liền nhau như một từ. Trường hợp này bởi vì -a ở cuối kết hợp với ā- đầu của āmāra, cho ra -ā-. Anāthapiṇḍada thuộc gốc phần tên của thí chủ, và hậu tố -sya là dấu chức năng chỉ sở hữu, nó được dùng cho tất cả danh từ với gốc -a để dịch ra là của.

Đọc tiếp >>

« Newer Posts - Older Posts »

Categories