Đăng bởi: Tống Phước Khải | 19/02/2014

LỤC ĐỊA TẠNG BỒ TÁT PHÁP ĐÀN

LỤC ĐỊA TẠNG BỒ TÁT PHÁP ĐÀN (.PDF)

(Đọc tiếp…)

Advertisements
Đăng bởi: Tống Phước Khải | 18/02/2014

ĐẠI CÁT TƯỜNG THIÊN NỮ TÂM CHÚ

ĐẠI CÁT TƯỜNG THIÊN NỮ TÂM CHÚ (.PDF)

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 18/02/2014

ĐỊA TẠNG BỒ TÁT DIỆT ĐỊNH NGHIỆP CHÂN NGÔN

ĐỊA TẠNG BỒ TÁT DIỆT ĐỊNH NGHIỆP CHÂN NGÔN (.PDF)

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 17/02/2014

KHỔNG TƯỚC MINH VƯƠNG CHÂN NGÔN

KHỔNG TƯỚC MINH VƯƠNG CHÂN NGÔN (.PDF)

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 17/02/2014

A DI ĐÀ PHẬT PHÁP ĐÀN

A DI ĐÀ PHẬT PHÁP ĐÀN (.PDF)

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 16/02/2014

TÀI BẢO THIÊN VƯƠNG TÂM CHÚ

TÀI BẢO THIÊN VƯƠNG TÂM CHÚ (.PDF)

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 16/02/2014

THIÊN THỦ THIÊN NHÃN QUÁN THẾ ÂM TÂM CHÚ

THIÊN THỦ THIÊN NHÃN QUÁN THẾ ÂM TÂM CHÚ (.PDF)

THIÊN THỦ THIÊN NHÃN QUÁN THẾ ÂM TÂM CHÚ

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokiteśvara-bodhisatva) nguyên đã phát Tâm Bồ Đề (Bodhi-citta) cứu độ chúng sinh. Sau khi trải qua nhược can Kiếp thì phát hiện chúng sinh chưa độ được vẫn còn vô cùng vô tận, họ liên tục nhận chịu sự dằn vặt của mọi loại thống khổ, trải qua vô số thứ sinh sinh chết chết lưu chuyển. Bởi thế, Quán Thế Âm Bồ Tát lại phát Tâm: “Ta sẽ độ hết tất cả chúng sinh, nếu Ta lui mất Tâm Bồ Đề, nguyện khiến cho thân của Ta bị xé rách thành ngàn mảnh”

Sau đó, Đại Sĩ lại trải qua một thời gian rất dài, sau đó lại phát hiện số mục chúng sinh vẫn chưa giảm chút nào. Như vậy, Tâm “phát Tâm độ hết chúng sinh” của Quán Thế Âm Bồ Tát ngay lúc ấy bị lay động lui giảm. Lúc này, cái đầu của Quán Thế Âm liền bị vỡ nát thành chín khối, thân thể bị xé rách thành ngàn mảnh

Khi ấy, Đức Phật A Di Đà (Amitāyus-buddha) cầm chín cái đầu của Quán Thế Âm Bồ Tát, đem mỗi một cái đầu kết hợp dựng lập lại, mặt bên trên lại an trên gò má của Kim Cương Thủ Bồ Tát (Vajra-pāṇi-bodhisatva), lại đem cái đầu của Đức Phật A Di Đà an tại khuôn mặt cao nhất, xong biến thành 11 cái đầu. Đức Phật lại cầm các mảnh bị phá vỡ, gom tập dựng lập lại, biến thành một ngàn bàn tay, một ngàn con mắt …sau đó, biến hóa thành Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát

_Tâm Chú ấy là:

Nam mô tam mãn đa mẫu đà nam, ngõa nhật lạp, đạt ma, ta

NAMO  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ VAJRA-DHARMA  HRĪḤ

_Quán Tưởng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát: trước tiên nên quán hư không, hư không hiện ra một vành trăng, chính giữa vành trăng có một chữ chủng tử TA (猭:HRĪḤ). Sau đó Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát hiện ra, phát ra hào quang. Lúc ấy nên quán tưởng cúng phẩm ở ngay trước mặt, dùng một chữ Chú “Bang (正:PAṂ) cũng biến hóa không cùng không tận, cúng dường Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát

Quán Thế Âm Bồ Tát sinh Tâm vui vẻ, phóng ba ánh sáng: trắng, hồng, xanh lam gia bị cho Hành Giả. Tự thân Hành Giả biến thành ánh sáng phi thường. Khi ấy, Quán Thế Âm Bồ Tát do tiếp nhận sự cúng dường của Hành Giả, nên Ngài cũng biến thành một điểm ánh sáng đi đến Đỉnh Luân của Hành Giả, từ Đỉnh Luân của Hành Giả tiến vào mạch chính giữa (trung mạch) của Hành Giả. Mặt bên trong trái tim của Hành Giả có một hoa sen, chính giữa có một chữ TA (猭:HRĪḤ). Sau lúc ấy thì Quán Thế Âm Bồ Tát tiến vào trong trái tim của Hành Giả, ngồi trên hoa sen trong trái tim của Hành Giả. Sau đó điểm ánh sáng ấy dần dần tăng lên tràn đầy toàn thân của Hành Giả. Khoảng một cái búng tay, quán tưởng chính mình biến thành Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát. Sau đó, lại trì Tâm Chú:

Nam mô tam mãn đa mẫu đà nam, ngõa nhật lạp, đạt ma, ta

NAMO  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ VAJRA-DHARMA  HRĪḤ

16/02/2014

 

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 16/02/2014

DI LẶC BỒ TÁT CHÂN NGÔN

DI LẶC BỒ TÁT CHÂN NGÔN (.PDF)

DI LẶC BỒ TÁT CHÂN NGÔN

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Di Lặc Bồ Tát tại Mật Tông, nguyên có tên gọi là Muội Đát Lệ Dã (Maitreya). Tôn này ở bên trong Thai Tạng Giới Mạn Trà La có vị trí ở phương Đông Bắc của Trung Đài Bát Diệp Viện. Ở bên trong Kim Cương Giới Mạn Trà La có vị trí ở phương Đông của 16 Tôn đời Hiền Kiếp

Đại Luân Kim Cương bên trong Thai Tạng Giới Mạn Trà La cũng là Hóa Thân Kim Cương Phẫn Nộ của Di Lặc Bồ Tát

_Chân Phật Tông Căn Bản Truyền Thừa Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật truyền có Di Lặc Bồ Tát Bạch Vân Quán. Pháp ấy có trọng điểm như bên dưới (xem xét rõ Liên Sinh Hoạt Phật Văn Tập_Mật Tạng Kỳ Trung Kỳ)

1_ Kết Di Lặc Bồ Tát Bát Diệp Ấn cũng là Kim Cương Hợp Chưởng Ấn. Trước tiên bên trái chuyển một lần xuống dưới, lại bên phải chuyển một lần xuống dưới, để ở ngực

2_Quán tưởng trong hư không hiện ra Di Lặc Bồ Tát

“Đối diện không trung, Thầy ngồi trên trăng sen (vành trăng trên hoa sen)

Tôn Tịnh Di Lặc, tướng ôn hòa lặng vui

Tín Tâm (tâm tin tưởng) Ta, trong cõi Phước Đức Thắng

Vì hoằng Chính Pháp, thường trụ Trời Đạo Lợi”

Lúc này, quán tưởng Di Lặc Bồ Tát, trái tim của Ngài có chữ YU  [chữ chủng tử] như đồng với mây trắng mông mênh lay động nhẹ nhàng. Chữ chủng tử của mây trắng mông mênh lay động nhẹ nhàng ấy như một dải lụa trắng, thỉnh triệu Hành Giả Mật Tông. Hành Giả Mật Tông như cỡi mây, tự hiểu biết thân mình bay lên, rồi ở trái tim của Di Lặc Bồ Tát, mây trắng càng đến gần càng tinh vi. Hành Giả Mật Tông trụ ở trái tim chí tôn của Di Lặc Bồ Tát. Hai điều này dung hợp Tự Tính với Phật Tính (Buddhatā) không có phân biệt

3_Niệm Di Lặc Bồ Tát Tâm Chú:

“Ông, mễ xuy gia, thoa cáp” (108 biến)

OṂ_ MAITREYA  SVĀHĀ

Hành Giả tiến vào Tam Ma Địa (Samādhi), mây trắng ở ngay bên dưới ấy, trên mây có tháp báu, điện báu toàn là Ma Ni tạo thành, trong điện báu có Di Lặc Bồ Tát đang thuyết Pháp

Hành Giả Mật Tông y theo sức gia trì của ba Mật: Thủ Ấn, Quán Tưởng, Chú để làm tăng tiến chính mình, tiến vào Tam Ma Địa ở Nội Viện của Di Lặc, được Di Lặc Bồ Tát ban cho Quán Đỉnh thọ ký. 

_Chân Phật Hành Giả nếu có thế hoẳng Pháp giúp đời, hoặc phát nguyện tu tập Di Lặc Bạch Vân Quán thì có thể đi theo Bồ Tát Di Lặc, trước tiên sinh vào Tịnh Thổ của Di Lặc, rồi đời vị lai, Di Lặc Bồ Tát quyết định thành Phật thì người đi theo, nhất định thành Phật. Ấy là sự phổ độ của Long Hoa Tam Hội (3 hội Long Hoa)

15/02/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 16/02/2014

MA LỢI CHI THIÊN CHÂN NGÔN

MA LỢI CHI THIÊN CHÂN NGÔN(.PDF)

MA LỢI CHI THIÊN

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Ma Lợi Chi Thiên (Marīci-devī), Mật Hiệu là Chiến Uy Kim Cương, là quyến thuộc của Thiên Đế Thích (Indra) thường tùy theo Nhật Thiên (Āditya) chạy mau chóng ở trước mặt, là Bồ Tát của ánh sáng Đại Uy, có sức Thần Thông tự dùng ẩn hình. Ngài được xưng là vị Thần chiến đấu hoặc vị Thần thủ hộ cho Nhẫn Thuật (Ninja).

Tâm Chú của Ngài là:

Ông, ma lợi chi ngọc, thoa cáp

OṂ_ MARĪCĪYE  SVĀHĀ 

_Ma Lợi Chi Thiên là mẫu mực chuyên môn trừ tai nạn như: nạn vua chúa, nạn giặc cướp, nạn đi đường, nạn đất nước lửa gió, nạn đao binh, nạn thuốc độc, nạn thú ác, nạn oan gia người ác.

Ma Lợi Chi Thiên, bên trên cai quản 36 Thiên Cương Tinh, bên dưới cai quản 72 Địa Sát Tinh28 Tú đều do vị Trời này cai quản

Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát có thiên biến vạn hóa, có rất nhiều Thủ Hạ là chúng chư Thiên, Quỷ Thần. Tại Đạo Gia thì tôn xưng Ngài là Đẩu Mẫu Tinh Quân là người đứng đầu của Tinh Quân  

_Ma Lợi Chi Thiên này có Đại Thần Thông, cùng với Chân Phật Tông có duyên phận rất lớn, thời thời thủ hộ Đệ Tử Môn tu Pháp.

Ma Lợi Chi Thiên Tâm Chú, ít nhất cần trì tụng mười vạn biến đến ba mươi vạn biến thì tu Pháp mới dễ dàng tương ứng

_Nếu có kẻ bị người ác lừa dối, kẻ tu Pháp có chướng ngại…. phụng thỉnh Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát thì tất cả có thể đắc được thành tựu vô thượng.

_Nếu người nhận được ánh sáng của Ma Lợi Chi Thiên soi chiếu thì:

.)Hoại Nhân (người có phẩm chất ác liệt, người hoạt động tiến hành phá hoại) chẳng thể nhìn thấy bạn

.)Hoại Nhân chẳng thể bắt được bạn

.)Hoại Nhân chẳng thể cột trói bạn được

.)Hoại Nhân chẳng thể hại bạn được

.)Hoại Nhân chẳng thể lừa dối bạn được

.)Hoại Nhân chẳng thể ăn trộm vật của bạn được

.)Hoại Nhân chẳng thể ăn cắp vật của bạn được

Ấy là Oán Gia chẳng thể được dịp thuận tiện gây hại được.

_Ánh sáng của Ma Lợi Chi Thiên là ánh sáng cầu Phước to lớn

Ánh sáng của Ma Lợi Chi Thiên ấy là đám lửa của Đại Nhật, bởi thế như lửa tại nơi thiêu đốt nóng là một đám lửa hồng dầy đặc, lại là ánh sáng màu vàng to lớn từ từ giáng xuống, là ánh sáng Phước màu vàng ròng ban cho con người một loại Phước Phần hưng phấn, tất cả ánh sáng rất thân mật, tất cả ánh sáng sung mãn

13/02/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 15/02/2014

DIỆU KIẾN BỒ TÁT

DIỆU KIẾN BỒ TÁT (.PDF)

dieu kien bo tat

Soạn dịch: HUYỀN THANH 

Diệu Kiến Bồ Tát, tên Phạn là Su-daśana hay Su-dṛṣṭa là vị Thiên Tôn được Thần Cách Hóa của Bắc Đẩu Tinh Thần, bậc tối thắng trong các vì sao (chư tinh). Lại xưng là Tôn Tinh Vương, Bắc Thần Bồ Tát, Diệu Kiến Tôn Tinh Vương, Diệu Kiến Đại Sĩ

Trong Kinh chẳng nói rõ Bản Địa của Bồ Tát này, hoặc dùng Thích Ca (Śākya-muṇi) làm Bản Địa, hoặc dùng Quán Âm (Avalokiteśvara) làm Bản Địa, hoặc dùng Dược Sư (Bhaiṣajya-guru) làm Bản Địa

Diệu Kiến Bồ Tát có đủ nhóm Công Đức; thủ hộ quốc thổ, tiêu trừ tai nạn, đẩy lùi quân địch, tăng ích Phước Thọ…như Thất Phật Bát Bồ Tát sở thuyết Đại Đà La Ni Thần Chú Kinh, quyển 2 nói rằng: “Ta, Bắc Thần Bồ Tát tên là Diệu Kiến. Nay muốn nói Thần Chú ủng hộ các quốc thổ, chỗ làm rất kỳ đặc, cho nên tên là Diệu Kiến, ở nơi Diêm Phù Đề (Jambu-dvīpa) là tối thắng trong mọi vì sao (chúng tinh), Tiên trong Thần Tiên, Đại Tướng của Bồ Tát, con mắt sáng của các Bồ Tát, độ khắp các quần sinh. Có Đại Thần Chú tên là Hồ Nại Ba (ngôn ngữ đời Tấn) ủng hộ quốc thổ, trợ giúp các quốc vương, tiêu trừ tai nạn, đẩy lui quân dịch. Không có gì chẳng do Chú này

Cụ đê đế đồ tô tra, a nhược mật tra, ô đô tra, cụ đồ tra, ba lại đế tra gia, di nhược tra, ô đô tra, câu la đế tra, đồ ma tra, toa ha”

MATITETUSUṬ  ANYAMIṬ  UTUṬ  KUKIṬ  BHALATEṬ  YA  VIDYAṬ  UTUṬ  KURATEṬ  KIMATA  SVĀHĀ

_Căn cứ theo Diệu Kiến Đà La Ni Kinh, quyển Hạ ghi chép thì vị Bồ Tát này ở phương Bắc của Thế Giới Sa Bà (Sāha-loka-dhātu) cho nên xưng là Bắc Thần Bồ Tát hay cứu các chúng sinh, khiến được Phước cát tường. Do đó Mật Giáo dùng Bắc Thần để chỉ Bắc Cực Tinh, dùng Bắc Cực Tinh làm Bắc Đẩu Thất Tinh và xem như là sự hóa hiện của Diệu Kiến Bồ Tát

Song, xưa nay liên quan đến sự đồng dị giữa Bắc Thần Bắc Đẩu Thất Tinh thì có các Thuyết nói rằng: có người dùng Bắc Đẩu Thất Tinh tức là Bắc Thần, có người dùng Văn Khúc Tinh trong Bắc Đẩu làm Bắc Thần, có người dùng Thủy Diệu làm Bắc Thần, có người lại dùng Thiến Đế Tinh làm Bắc Thần. Nhưng, đa số Kinh Điển vẫn cứ nói Bắc Thần, Diệu Kiến, Tôn Tinh Vương là đồng Thể khác tên, là vua của các vì sao (chư tinh)

_Tín ngưỡng Diệu Kiến bắt nguồn từ Ba Tỳ Luân Kinh của Ấn Độ cổ đại, nguyên từ tư tưởng của Tinh Tú, là dạng Thần Cách Hóa của Bắc Cực Tinh. Sau khi đến Trung Quốc thì hòa với Phật Giáo, Đạo Giáo… đồng thời truyền đến Nhật Bản. Do tín ngưỡng Diệu Kiến Bồ Tát được hỗn hợp giữa các yếu tố của Đạo Giáo, Mật Giáo, Âm Dương Đạo… nên hình tượng chẳng nhất định. Phần lớn là hình Võ Tướng có thân mặc giáp trụ, tay cầm cây kiếm, cỡi ngồi trên rùa rắn, hoặc hình tượng đứng trên con rùa được nhìn thấy ở Tự Viện theo hệ Mật Giáo của Nhật Liên Tông, Chân Ngôn Tông, Thiên Đài Tông và được xưng là Diệu Kiến Tôn Tinh Vương Bồ Tát, Bắc Thần Diệu Kiến Bồ Tát, Diệu Kiến Thiên là vị Thần võ, Thần Hộ Pháp… chưởng quản thủ hộ quốc thổ, trừ khử tai ách, âm thầm giúp cho trường thọ, trị liệu bệnh tật của con mắt…và rộng truyền thành tín ngưỡng của dân gian

Do là vị Bắc Thần có hình tượng cầm Kiếm, chân đạp lên rùa, rắn nên Diệu Tý Bồ Tát được xem là một Thể với Huyền Thiên Thượng Đế 

_Trong Sơn Âm Tạp Lục ghi rằng: “Tô vẽ tượng Diệu Kiến theo khuôn mẫu hình Đồng Tử, thân mặc áo giáp vàng ròng, tay phải duỗi cánh tay nắm cây kiếm Thần, tay trái co khủy tay để ở eo, bàn chân đạp lên rùa, rắn. Vị Đại Sĩ này hiện dấu vết tại bảy Tú ở phương Bắc, ấy là Bắc Cung Huyền Vũ vậy”

_Một số hình Tượng Diệu Kiến Bồ Tát ở Nhật Bản:

(xem hình trong bản PDF)

_Mật Giáo Đồ Tượng, quyển 3 ghi nhận vài hình tượng của Diệu Kiến Bồ Tát:hoặc làm hình Bồ Tát, hoặc làm hình Thiên Nữ cỡi Rồng ở trong Mây, có hai cánh tay hoặc bốn cánh tay. Trong đó tượng hai tay thì tay trái cầm hoa sen, trên hoa sen có bảy vì sao Bắc Đẩu (Bắc Đẩu Thất Tinh), tay phải: ngón cái và ngón trỏ cùng vịn nhau, hơi co ngón giữa, hướng lòng bàn tay ra bên ngoài làm Ấn Thuyết Pháp, đầu đội mão báu, ngồi Kiết Già ở trong mây ngũ sắc

(xem hình trong bản PDF)

_Diệu Kiến Bồ Tát Man Đa La:

Tức Mật Giáo dùng hiển bày Man Đa La Nội Chứng của Diệu Kiến Bồ Tát. Đồ Thức ấy là: Tại trong vành trăng lớn ở trung ương, vẽ Diệu Kiến Bồ Tát làm Trung Tôn (Tôn ở chính giữa), chu vi ấy vẽ 7 vành trăng nhỏ, trong vành trăng có bảy vì sao Bắc Đẩu, đây là Chúng của Nội Viện. Bắc Đẩu Thất Tinh y theo phương vị của vành trăng thuận theo thứ tự là: Tây Nam vẽ Tham Lang Tinh, mặt Tây vẽ Cự Môn Tinh, Tây Bắc vẽ Lộc Tồn Tinh, mặt Bắc vẽ Văn Khúc Tinh, Đông Bắc vẽ Liêm Trinh Tinh, mặt Đông vẽ Vũ Khúc Tinh, Đông Nam vẽ Phá Quân Tinh. Trước mặt Diệu Kiến Bồ Tát để một Luân Bảo

Ngoại Viện y theo phương vị, thuận theo thứ tự vẽ:

Phương Đông, vị trí Dần là Giáp Dần Tướng Quân, vị trí Mão là Đinh Mão Tòng Thần, vị trí Thìn là Giáp Thìn Tướng Quân.

Phương Nam: vị trí Tỵ vẽ Đinh Tỵ Tướng Quân, vị trí Ngọ vẽ Giáp Ngọ Tướng Quân, vị trí Mùi vẽ Đinh Mùi Tòng Thần

Phương Tây: vị trí Thân vẽ Giáp Thân Tướng Quân, vị trí Dậu vẽ Đinh Dậu Tướng Quân, vị trí Tuất vẽ Giáp Tuất Tướng Quân

Phương Bắc: vị trí Hợi vẽ Đinh Hợi Tòng Thần, vị trí Tý vẽ Giáp Tý Tướng Quân, vị trí Dửu vẽ Đinh Sửu Tòng Thần

Lại ở bốn góc, bốn cửa dùng ngôi sao (tinh) làm Giới. Ở khoảng trống của bốn góc vẽ cái bình hoa. 

(xem hình trong bản PDF)

_Mật Giáo Đồ Tượng, quyển 3, trang 52 ghi nhận là:

Trong Điện có mây ngũ sắc, trong mây có chữ A (唒) biến thành báu Như Ý, báu biến thành Diệu Kiến Bồ Tát, tay trái cầm hoa sen, trên hoa sen có bảy vì sao Bắc Đẩu, tay phải tác Ấn Thuyết Pháp, ngồi Kiết Già trong mây ngũ sắc, nhóm Bắc Đẩu Thất Tinh vây quanh

,)Căn Bản Ấn: Tay phải tác Thí Vô Úy co ngón cái hướng vào thân triệu vời 3 lần, tay trái tác Kim Cương Quyền an ở eo lưng

Chân Ngôn là:

MATITE  TUSUṬ  ANYAMIṬ  UTUṬ  KUKIṬ  BHALATEṬ  YA  CINYAṬ  UTUṬ  KURA  RATEṬ  KIṬ  MATA  SVĀHĀ

.)Hoặc dùng Đại Tam Cổ Ấn.

Kỳ Diệu Tâm Chú:

OṂ  SU-DṚṢṬA  SVĀHĀ

_Hoặc:

MATṚ  SIDDHA  SVĀHĀ

_Tâm Trung Tâm Chú:

OṂ  MAHĀ-ŚRĪYE  NṚVE (?DEVĪ)  SVĀHĀ

_Thành Tựu Viện:

Trong lầu gác có tòa hoa sen, trên tòa có chữ SU (), chữ SU biến thành hình ngôi sao, hình ngôi sao biến thành Diệu Kiến Bồ Tát, tay trái cầm hoa sen, trên hoa sen làm hình bảy ngôi sao Bắc Đẩu, tay phải tác Ấn Thuyết Pháp, năm ngón tay kèm duỗi hướng lên trên, đem ngón cái vịn bên cạnh ngón trỏ, lòng bàn tay hướng ra bên ngoài. Áo Trời, Anh Lạc, vòng đeo tai, xuyến trang nghiêm thân ấy, ngồi Kiết Già trong mây ngũ sắc, bảy vì sao Bắc Đẩu với 12 Đại Tướng trước sau trái phải cung kính vây quanh.

Ấn: tay phải tác Thí Vô Úy co ngón cái hướng về thân triệu vời 3 lần, tay trái tác Kim Cương quyền an ở eo lưng

Căn Bản Chân Ngôn:

OṂ_ MATE  TUSUṂṬ  ANYAMIṬ  UTUṬ  KUKIṬ  BHALATEṬ YA VIDYAṬ  UTUṬ  KURUTEṬ  KIMATA  SVĀHĀ

_ Mật Giáo dùng Bồ Tát này làm Bản Tôn của Pháp tu thì xưng là Diệu Kiến Pháp, Bắc Thần Pháp, Tôn Tinh Pháp có thể trừ khử tai ách, thủ hộ quốc thổ, trị khỏi bệnh tật về con mắt….

Tự Viện của Đông Mật, hàng năm thường thực hành Nhương Tinh Pháp Hội, trong đó Diệu Kiến Bồ Tát là một Chủ Tôn của Mạn Đà La

11/02/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 12/02/2014

DIỆU ÂM PHẬT MẪU TÂM CHÚ

DIỆU ÂM PHẬT MẪU TÂM CHÚ (.PDF)

DIỆU ÂM PHẬT MẪU TÂM CHÚ

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Diệu Âm Phật Mẫu tên Phạn là Tát La Tát Phạt Để (Sarasvatī), phát âm tốt đẹp, khéo ca vịnh.

Diệu Âm Thiên Nữ có một mặt hai cánh tay, da trắng như tuyết, dung nhan như ngọc, tơ xanh thành búi tóc, áo Trời, quần lụa, vòng xuyến, Anh Lạc, các thứ tô điểm trang nghiêm, khuôn mặt như Đồng Nữ 12 tuổi, hai chân giao chéo nhau, an trụ ở tại vành trăng trên hoa sen.

Lại Thiên Nữ này được dụ với Thần âm nhạc, tay trái nhẹ nâng cây đàn đầu chim phượng có ngàn sợi dây, Ngón tay ngọc bên tay phải nhẹ vịn tấu âm màu nhiệm khiến lỗ tai ưa thích lắng nghe.

_Phật Giáo Tạng Truyền xếp Văn Thù Bồ Tát Diệu Âm Phật Mẫu làm Chủ Tôn Trí Tuệ. Tu trì Diệu Âm Phật Mẫu có thể dùng khai phát Trí Tuệ, tăng gốc Phước Tuệ. Tu trì Pháp Môn này có thể mở Tuệ tăng Phước, được biện tài khéo léo màu nhiệm phá các Ngoại Đạo, Tà LuậnṚốt ráo mà nói thì có thể dùng hiển rỏ đều sinh khởi Phật Trí, được chứng Phật Quả, thành tựu tất cả Tất Địa của Văn Thù Diệu Âm không có hai (vô nhị Văn Thù Diệu Âm nhất thiết Tất Địa) 

_Diệu Âm Phật Mẫu xuất hiện từ Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương, Kinh Đại Tùy Cầu với Kinh Đại Nhật. Vị ấy xưng Hiệu là Biện Tài Thiên Nữ, Mỹ Âm Thiên Nữ, Diệu Âm Thiên Nữ

_Diệu Âm Phật Mẫu Tâm Chú:

“Ông, sa lạp sa để, thoa cáp

OṂ_ SARASVATĪ  SVĀHĀ

_Bản Thệ của Diệu Âm Phật Mẫu được ghi chép ở Phẩm Đại Biện Tài Thiên Nữ trong Kinh Tối Thắng Vương là: “Đạo Trường của Đức Thích Tôn tụ tập Đại Chúng lắng nghe Kinh Tối Thắng Vương thời vị Thiên Nữ này đứng dậy, ở trong Đại Chúng bạch Phật rằng: ‘Thế Tốn Nếu có vị Pháp Sư nói Kinh này sẽ tận hết TRí Tuệ của con, đầy đủ biện tài của ngôn thuyết trang nghiêm. Nếu vị Pháp Sư ấy đối với nghĩa của câu, văn tự của Kinh Điển này có chỗ quên mất thì khiến cho ghi nhớ khai ngộ, lại cho Đà La Ni, Tổng Trì vô ngại. Đối với vô lượng hữu tình nghe Kinh Điển này đều được Phước Trí, Biện Tài chẳng thể nghĩ bàn, Đại Tuệ không cùng tận, khéo hiểu mọi Luận, các kỹ thuật, hay ra khỏi sinh tử, mau đến Vô Thượng Bồ Đề”

_Tu tập Biện Tài Thiên Nữ Kim Cương Pháp được tài của Biện Luận, ấy cũng là đầy đủ biện tài vô ngại

1_Cái miệng như nước của Huyền Hà vĩnh viễn chẳng đứt đoạn dòng chảy, mau chóng phi thường

2_Biện luận lanh lợi, lời nói có vật rất tốt đẹp màu nhiệm

3_Hay ứng với thời cơ mà biện luận

4_Không có hiện ra Luận sai lầm

5_Ý biện không có cùng tận, vĩnh viễn chẳng đứt đoạn

6_Nơi biện luận đều có Ý Cảnh phong phú

7_Là biện tài của Lý màu nhiệm vô thượng.

_Cõi Trời mà Biện Tài Thiên Nữ cư ngụ được xưng là Đại Biện Thần Dụng Tự Tại Quang Khiết Danh Thiên, ngang bằng với Quả Vị của Bồ Tát ở Địa thứ chín. Ở địa vị của chư Thiên đi đến giảng là Đệ Nhất Nghĩa Thiên. Vị Thiên Nữ này cùng với nhân gian có sự cảm ứng mau chóng phi thường

_Người tu Pháp có thể nhìn thấy Biện Tài Thiên Nữ giáng xuống, khiến cho có sự hiệu nghiệm, thật là chẳng thể nghĩ bàn.

Người tu Pháp này thì tất cả tinh tú ác đi đến xâm hại, tất cả tai nạn, tất cả sự đau khổ do bệnh tật xung phạm, như đấu tranh, chiến tranh, mộng ác, Thần ác, Cổ Độc, Yểm Mỵ Chú…. Toàn bộ mỗi một nhóm ấy đều được giải trừ, tiêu diệt.

12/02/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 11/02/2014

ĐẠI PHẠM THIÊN TÂM CHÚ

ĐẠI PHẠM THIÊN TÂM CHÚ (.PDF)

ĐẠI PHẠM THIÊN TÂM CHÚ

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Đại Phạm Thiên, chủ ý ấy là thanh tịnh. Trong Bà La Môn Giáo là vị Chủ Thần là vị Chủ Tế sáng tạo ra trời đất

Thông thường nói Đại Phạm Thiên là chủ của Thiên Giới (cõi Trời), có thể nói là cha của chúng sinh. Khi vị Trời này vui thời Thế Giới của con người an ổn phi thường. Khi vị Trời này giận thì Thế Giới có đủ sự động loạn, cũng sinh cũng chẳng an ổn. Nương theo nói một lần vui một lần giận của Đại Phạm Thiên Vương, thống trị mọi biến động lớn và tai nạn lớn của nhân sinh

Trong Kinh Đại Nhật ghi chép Pháp Tướng ấy là: “Đại Phạm Thiên Vương, đầu đội mão búi tóc, ngồi trên xe có bảy con ngỗng kéo, bốn mặt bốn tay. Bên phải: tay thứ nhất cầm hoa sen, tay thứ hai cầm tràng hạt. Bên trái: tay thứ nhất cầm cây gậy, tay thứ hai tác Ông Tự Ấn (Ấn chữ Oṃ) tức Cát Tường Ấn 

_Chủ Thần của Ấn Độ Giáo có ba vị:

Thần sáng tạo: Bà La Hạ Ma (Brahma) là Đại Phạm Thiên

Thần phá hoại: Thấp Bà (Śiva) là Tự Tại Thiên

Thần bảo hộ: Tỳ Thấp Nô (Viṣṇu) là Biến Tịnh Thiên

_Thần Sáng Tạo, Đại Phạm Thiên (Bà La Hạ Ma:Brahma) ở trong Kinh Phệ Đà (Veda) có định nghĩa và giải thích là:

Hết thảy Bà La Môn, Tăng Lữ, Tế Tư… sinh ra từ trong miệng của Đại Phạm Thiên

Hết thảy Sát Đế Lợi, Hoàng Tộc, Chiến Sĩ… sinh ra là từ cánh tay bàn tay của Đại Phạm Thiên

Hết thảy Phệ Xá, thợ thuyền, thương gia… sinh ra là từ bắp đùi của Đại Phạm Thiên

Hết thảy Thủ Đà La, Nông Dân với nô lệ… sinh ra từ đáy bàn chân của Đại Phạm Thiên

Nhìn chung, Đại Phạm Thiên là vị Thần sáng tạo của Ấn Độ Giáo, tất cả tất cả đều là sự sáng tạo của Ngài.

_ Pháp tu của Đại Phạm Thiên Vương, rất chủ yếu cũng là cần thiết bày trí lông mao lông vũ của con ngỗng trắng (bạch nga) cắm ngay chung quanh Đại Phạm Thiên Vương, bảy cái lông của con ngỗng trắng đại biểu cho một lần lễ bái, vòng quanh một lần đến vòng quanh một ngày, mỗi một thứ tu Pháp. Sau khi trì Chú cũng cầm một cái lông đứng dậy, trì Chú 108 biến, nên tu Pháp tu đến khi tương ứng, sau đó cầm cái lông đeo ngay trên thân cũng tụ hội được sự cát tường phi thường 

_Đại Phạm Thiên Vương Tâm Chú:

Ông, ma lạp hám ma ni, thoa cáp

OṂ  BRAHMAṆI  SVĀHĀ

_Đại Phạm Thiên Vương là đích chí cao vô thượng, chủ yếu thọ nhận đủ Quán Đỉnh của Đại Phạm Thiên Vương, tu Pháp tương ứng Đại Phạm Thiên Vương xong

1_Tương lại, bạn sẽ có danh vị (danh tiếng và địa vị)

2_ Bạn sẽ tôn quý phi thường

3_Bạn sẽ giàu có phi thường

Bởi thế, Đại Phạm Thiên Vương Pháp là sự tôn quý, thành tựu ắt là vua của nhân gian

11/02/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 11/02/2014

VŨ BẢO ĐÀ LA NI CHÂN NGÔN

VŨ BẢO ĐÀ LA NI CHÂN NGÔN (.PDF)

VŨ BẢO ĐÀ LA NI CHÂN NGÔN

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Vào thời đại của Đức Phật Đà (Buddha), trong nước Kiều Thiểm Di (Kauśaṃbi) có một vị trưởng giả Diệu Nguyệt (Sucandra) là một Đệ Tử có niềm tin trong sạch chân thành kính trọng Đức Phật. Trong nhà có nhiều quyến thuộc và tôi tớ. Chỉ vì tiền của thiếu thốn , nam nữ trong nhà có nhiều bệnh tật, Kinh Tế của vận nhà khó có thể duy trì được.

Ngay lúc đó, Đức Phật Đà trụ ở rừng Kiến Tra Ca (Kaṇṭaka) trong nước Kiều Thiểm Di. Do đó, trưởng giả Diệu Nguyệt mới có một cơ duyên thỉnh hỏi Đức Phật Đà: “Trong Thế Gian, nam nữ nghèo khốn làm thế nào xa lìa được sự nghèo túng? Làm sao được tài bảo giàu có và có thể chu cấp cho thân thuộc với ban cho chúng sinh Hữu Tình?”

Đức Phật Đà nói cho trưởng giả Diệu Nguyệt biết: Ở Đời quá khứ, Ngài (Đức Phật) từng ở chỗ của Đức Kim Cương Hải Âm Như Lai (Vajra-dhāra-sāgara-nirghoṣa-tathāgata) thời được trọn vẹn Vũ Bảo Đà La Ni. Đà La Ni này có Uy Đức lớn, người trì tụng sẽ có nhiều lợi ích:

1_ Phi Nhân (Amanuṣya), Dạ Xoa, La Sát, Quỷ ác chẳng thể gây hại. Loài chuyên môn ăn mỡ, tủy, mủ, máu, nước mũi, thứ khạc nhổ, nước tiểu, phân của con người. Các Quỷ muốn đến gây não hại đều chẳng thể gây chướng ngại được. Bệnh hoạn, đói khát, bệnh dịch, nghiệp chướng thảy đều tiêu diệt.

2_Tâm nhớ, tay cầm, viết chép, chỉ nghe danh tự thọ trì, tùy vui, rộng vì người khác diễn nói thì kẻ trai lành, người nữ thiện ấy trong đêm dài được an ổn, thọ nhận các khoái lạc. Đời này chẳng nghèo cùng và chư Thiên thảy đều vui vẻ, giáng xuống tài bảo, lúa đậu, ban Phước cho người thọ trì.

3_Nếu nam nữ hiền thiện, cúng dường tất cả Như Lai, ở ngày đêm không có gián đoạn tụng trì Đà La Ni này thì trong nhà người ấy: tài bảo tức kho tàng tràn đầy, không có thiếu thốn.

Sau khi trưởng giả Diệu Nguyệt lắng nghe Đức Phật Đà nói Vũ Bảo Đà La Ni này thời trong Tâm vui vẻ phi thường. Sau khi quay về nhà, trưởng giả thọ trì, đọc tụng chẳng gián đoạn kèm rộng vì người khác phân biệt, giải nói.

Có một lần, Đức Phật Đà sai A Nan (Ānanda) đến nhà của vị trưởng lão để xem xét thời A Nan phát hiện bên trong kho tàng ở nhà của vị trưởng lão có mọi loại tiền tài, lúa đậu, các vật châu báu với các vật dụng thảy đều tràn đầy sung túc… chẳng giống với tình tình nghèo khốn xưa kia. Lúc này, Đức Phật mới nói cho A Nan biết: Nhân (Hetu) này là trong Tâm của trưởng lão Diệu Nguyệt tin tưởng trong sạch nơi Đức Thế Tôn, kèm thọ trì Vũ Bảo Đà La Ni này làm Duyên (Pratyaya) vì tất cả hữu tình tuyên nói 

_Vũ Bảo Đà La Ni cũng có tên là Năng Hoạch Nhất Thiết Tài Bảo Phục Tàng, cũng có tên là Nhất Thiết Như Lai Xưng Tán Vũ Bảo Đà La Ni Giáo.

Chú ngắn của Vũ Bảo Đà La Ni là:

Ông, phạp tô, đạt liệt, thoa cáp

OṂ_  VASU-DHARA  SVĀHĀ

Nếu có nam nữ hiền thiện, trong nhà nghèo khốn, thiếu thốn tiền của. Trong Tâm tin tưởng trong sạch, cúng dường Như Lai, trì tụng Chú này chẳng gián đoạn ắt hay thoát lìa nghèo túng, được tài bảo lớn.

10/02/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 10/02/2014

ĐẠI TÙY CẦU BỒ TÁT TÂM CHÚ

ĐẠI TÙY CẦU BỒ TÁT TÂM CHÚ (.PDF)

ĐẠI TÙY CẦU BỒ TÁT TÂM CHÚ

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Đại Tùy Cầu Bồ Tát tên Phạn là Ma Ha Bát La Để Tát Lạc (Mahā-pratisaraḥ). Vị Bồ Tát này ở trong Thai Tạng Giới của Mật Tông là một Tôn Bồ Tát của Liên Hoa Bộ. Mật Hiệu là Dữ Nguyện Kim Cương.

Thân ấy có 8 cánh tay, Kim Thân là màu vàng đậm. Bên trái: tay cao nhất cầm hoa sen, trên hoa sen có bánh xe vàng rực lửa; tiếp theo là Phạn Khiếp (rương Kinh Phạn), tiếp đến là cây phương báu, tiếp đến là tay cầm sợi dây. Bên phải: tay cao nhất là Ngũ Cổ Bạt Chiết La (chày Kim Cương năm chấu), tiếp đến là Bảng Mâu (cây kích), tiếp đến là cây kiếm báu, cuối cùng là Việt Phủ Câu (cây búa)

_Vì sao gọi là Đại Tùy Cầu Bồ Tát? Nhân vì Tôn Bồ Tát ấy một hướng tùy theo sự mong cầu của chúng sinh mà ban cho như Nguyện. Chủ cần cúng phụng Ngài, niệm tên của Ngài, niệm Chân Ngôn bí mật của Ngài… đều có thể như Ý

Bồ Tát này còn có một tên gọi là Đại Minh Vương. Nhân vì có Duyên của ánh sáng tùy theo thân cho nên Chân Ngôn bí mật ấy là Phổ Biến Quang Minh Thanh Tịnh Sí Thịnh Vô Năng Thắng Đại Minh Vương Đà La Ni, thông thường xưng là Đại Tùy Cầu Đà La Ni

_Đại Tùy Cầu Bồ Tát có 8 Thủ Ấn. Hành Giả, sau khi tay kết 8 Thủ Ấn, hướng về Đại Tùy Cầu Bồ Tát cầu nguyện thì có thể viên mãn như ý. Mỗi một thứ mà bạn cầu xin Ngài thì bạn kết Thủ Ấn ấy. Chủ yếu là niệm Chú Ngữ của Ngài.

Ông, ma ha bát lạp để, tát lạc, thoa cáp”

OṂ_ MAHĀ-PRATISARAḤ  SVĀHĀ

_Tám Thủ Ấn ấy gọi là Tùy Cầu Bát Ấn

1_ Nội Ngũ Cổ Ấn

2_Thời Luân Kim Cương Ấn

3_Đại Uy Đức Kim Cương Ấn

4_ Tôn Thắng Phật Mẫu Ấn

5_Tam Cổ Ấn

6_Đan Cổ Ấn

7_Hư Không Tạng Ấn

8_Phạn Khiếp Ấn

Dùng Phạn Khiếp Ấn chà xát ba lần xuống dướng, chủ yếu vỗ ba lần xuống dưới, rồi trở lại đến Ấn đầu tiên của Đại Tùy Cầu Bồ Tát, ấy là yếu quyết rất trọng yếu hướng về Đại Tùy Cầu Bồ Tát cầu nguyện.

_Đại Tùy Cầu Bồ Tát hay bạt trừ tội chướng, phiền não, nạn khổ, sự sợ hãi với bệnh tật của tất cả chúng sinh, khiến cho thân tâm của chúng sinh được an vui, viên mãn sự mong cầu, thành tựu các Hạnh, hồi hướng Bồ Đề, Người thọ trì Đà La Ni này có thể được hàng Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Quỷ Thần đi theo thủ hộ với được sự hộ niệm của tất cả Như Lai.

Đà La Ni này có lợi ích rộng lớn. Lắng nghe, thọ trì, đọc tụng, viết chép, đeo giữ đều có Công Đức lớn với lợi ích.

Căn cứ vào sự ghi chép của Kinh Văn thì Chú này có thể chuyển trừ khổ ách của Thiên Tai Địa Biến… có các loại Công Đức: lửa chẳng thể thiêu đốt, chất độc chẳng thể xâm hại, giáng phục quân địch của nước khác, phá Địa Ngục Vô Gián, trừ nạn về Rồng, Cá… cùng với chiêu vời Phước Đức, diệt tội chướng, bền chắc thân tâm, cầu con được con, năm loại lúa đậu tươi tốt được mùa, lợi ích điều hòa thời tiết… mà trong 3 quyển “Tùy Cầu Bồ Tát Cảm Ứng Truyện” đã ghi chép các loại sự tích linh nghiệm.

10/02/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 09/02/2014

CỔ LỖ CỔ LIỆT PHẬT MẪU TÂM CHÚ

CỔ LỖ CỔ LIỆT PHẬT MẪU TÂM CHÚ (.PDF)

CỔ LỖ CỔ LIỆT PHẬT MẪU TÂM CHÚ

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí

Việt dịch: HUYỀN THANH 

Cổ Lỗ Cổ Liệt Phật Mẫu (Kurukulle) là Hồng Tôn của Mật Giáo, là Bản Tôn của Pháp Kính Ái. Pháp ấy được thấy ở Phật Thuyết Đại Bi Không Trí Kim Cương Đại Giáo Vương Nghi Quỹ Kinh. Hán dịch là Cô La Bồ Tát

Kinh ghi rằng: “Đức Phật bảo Kim Cương Tạng rằng: “Cau mày nhin ngó gọi là Phẫn Nộ Nhãn (Mắt giận dữ), hai mắt hướng về bên trái nhìn ngó gọi là Tín Ái Nhãn (mắt tin yêu)”

_Lại nói rằng: “Nay Ta ở trong 12 Nghi Quỹ rộng lớn, lược nói Cô La Bồ Tát đối với các chúng sinh mau chóng thành tựu Pháp Tín Ái. Từ chữ Hột Lý (猭:Hrīḥ) quán tưởng Bản Tôn màu hồng có bốn cánh tay, bàn tay cầm cung tên, cầm hoa Ưu Bát La (Utpala) với móc câu hoa sen (Liên Hoa Câu). Như vậy ở trong ba cõi mà làm Tín Ái

Đối với Sát Đế Lợi (Kṣatriya) tụng Chân Ngôn mười vạn biến. Tể Quan tụng một trăm biến. Đối với chúng sinh trong Thế Gian tụng một vạn biến. Chư Thiên (Devānāṃ) tụng hai mươi vạn biến. A Tu La (Asura) bảy mươi vạn biến. Dược Xoa (Yakṣa), Bàng Sinh (Tiryagyoni:Súc sinh) tụng một Câu Chi (Koṭi:100triệu)

Như điều đã nói ấy, trụ tướng thanh tịnh, thân Kim Cương bền chắc của chư Phật Thế Tôn hay nhiếp thọ khắp.

Khi làm Mạn Noa La (Maṇḍala:Đàn Trường) với Hộ Ma (Homa), vào lúc sáng sớm thừa sự tượng Phật

Làm Gia Trì (Adhiṣṭhāna) xong, quán tưởng chư Phật tràn đầy khắp hư không, tùy thuộc Bản Tôn vào bên trong Tâm. Đối với Hạnh Chân Ngôn (Mantra-caryā) cần phải khéo hiểu, mọi loại cúng dường đều từ chữ Hồng (猲:Hūṃ) sinh ra”

 

_Chân Ngôn ấy tức là Tín Ái Chân Ngôn:

Ông, cổ lỗ cổ liệt, truất lợi, thoa cáp”

OṂ_ KURUKULLE  HRĪḤ  SVĀHĀ

_Chân Phật Tông: Cổ Lỗ Cổ Liệt Phật Mẫu Pháp là Mật Tông Đại Quyền Uy Tôn Giả. Đức Phật nguyên thủy Kim Cương Trì truyền Pháp cho Kim Cương Thủ Bồ Tát, Kim Cương Thủ Bồ Tát truyền Pháp cho Cụ Sinh Du Hý Kim Cương. Lại do Phước Đức Hải Truyền Thượng Sư được, lại truyền cho Huyền Hành Pháp Hải Thượng Sư, do Huyền Hành Pháp Hải Thượng Sư truyền cho Thổ Đăng Kỳ Ma Thượng Sư. Sau này cũng là Bản Tôn truyền thừa Trí Tuệ của Linh Tiên Chân Phật Tông

_Chiếu theo Bản Pháp tu trì, ngay lúc biến hóa Bản Tôn thời có thể kết Bản Tôn Thủ Ấn, có thể đồng thời triệu thỉnh năm Đức Phật với quyến thuộc của Ngài đều đến. Năm Đức Phật với quyền thuộc đều dùng tay cầm bình báu Cam Lộ đến rưới rốt lên đỉnh đầu của Hành Giả. Toàn thân của Hành Giả tràn đầy Quán Đỉnh thanh tịnh, liền được toàn thân thanh tịnh.

Pháp này được Tổ Sư của Bạch Giáo liệt vào Pháp Bất Cộng của Mật Tu. Tổ Sư của Bạch Giáo có rất nhiều người dùng Pháp này làm Bản Tôn bí mật, ấy là Đại Pháp.

Pháp Tướng có thể thỉnh người thợ đục khắc, hoặc nhờ họa sĩ vẽ, thỉnh Thượng Sư gia trì qua, liền có thể cúng dường tu trì. Pháp này đặc biệt thù thắng vậy.

09/02/2014

 

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 09/02/2014

THẦN CHÚ CỦA 21 VỊ ĐỘ MẪU

THẦN CHÚ CỦA  21 VỊ ĐỘ MẪU (.PDF)

21 Độ Mẫu

Dịch âm Phạn Hán: HUYỀN THANH

1_Tốc Dũng Cứu Độ Mẫu (OṂ)

OṂ  TĀRE  TUTTĀRE  TURE  BHODHI-CITTA (?bodhi-citta)  SVĀHĀ

2_Bách thu Lãng Nguyệt Mẫu (TĀ) 

OṂ  TĀRE  TUTTĀRE  TURE  PRAJÑA  HRĪṂ  HRĪṂ  SVĀHĀ

3_Kim Sắc Cứu Độ Mẫu (RE) 

OṂ  TĀRE  TUTTĀRE  TURE  MAHĀ-PUṆYE  SVĀHĀ

(Xem tiếp…)

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 09/02/2014

TÔN THẮNG PHẬT MẪU TÂM CHÚ

TÔN THẮNG PHẬT MẪU TÂM CHÚ (.PDF)

TÔN THẮNG PHẬT MẪU TÂM CHÚ

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH 

Như Lai Đỉnh Kế Tôn Thắng Phật Mẫu lại gọi là Tối Thắng Phật Đỉnh, Ô Sắt Nị sa hoặc Phật Đỉnh Tôn Thắng Phật Mẫu… Mật Hiệu là Trừ Ma Kim Cương

Như Lai Đỉnh Kế Tôn Thắng Phật Mẫu là Hóa Thân của Tỳ Lô Giá Na Phật (Vairocana-buddha) cùng là một trong ba Tôn Trường Thọ của Mật Giáo (Vô Lượng Thọ Phật, Bạch Độ Mẫu, Đỉnh Kế Tôn Thắng Phật Mẫu)

_Căn cứ vào Kinh Văn của Như Lai Đỉnh Kế Tôn Thắng Phật Mẫu Hiện Chứng Nghi miêu tả trình bày hình tượng của Như Lai Đỉnh Kế Tôn Thắng Phật Mẫu là: “Thân như trăng mùa Thu, trắng sáng không có tỳ vết, có ba mặt tám cánh tay, mỗi mặt đều có đủ ba con mắt, tướng mạo Từ Bi trang nghiêm, đại biểu cho sự tiêu tai dứt nạn. Mặt bên phải màu vàng ròng hiện dáng vẻ tươi cười vui thích, đại biểu cho sự tăng Phước ích Thọ. Mặt bên trái màu xanh lam hiển dung mạo vắng lặng hơi giận dữ, đại biểu cho sự giáng phục đường ác. Sáu cánh tay đại biểu cho sáu Ba La Mật….Thân Phật Mẫu khoác áo Trời, đầu đội mão báu Ma Ni năm cánh, kèm có Anh Lạc, vòng đeo tai, trang sức lồng ngực, xuyến đeo ở cánh tay, xuyến đeo ở cổ tay, xuyến đeo ở bàn chân… trang sức thân ấy, trang nghiêm an lành ngồi Kiết Già trên vành trăng hoa sen”

_Tu trì Đỉnh Kế Tôn Thắng Phật Mẫu Pháp Môn hay tăng trưởng tuổi thọ với Phước Tuệ, tiêu trừ tất cả nghiệp tội từ vô thủy đến nay, miễn trừ tất cả tai vạ xấu ác 

_Phật Đỉnh Tôn Thắng Đà La Ni Chú:

Ông, phổ loang, thoa cáp. Ông, a di đà, a du lạp, đạt đức, thoa cáp

OṂ  BHRŪṂ  SVĀHĀ_ OṂ  AMṚTĀ  AYU  TĀTE  SVĀHĀ

(Theo người dịch thì câu Chú này là:

OṂ_  BHRŪṂ  SVĀHĀ _ OṂ  AMṚTA  AYURDADE  SVĀHĀ)

_Tâm Chân Ngôn: “Ông, a di lý đả, đắc ca, phạp để, thoa cáp

OṂ_  AMṚTA  TEJA  VATI  SVĀHĀ 

_Sự thù thắng của Phật Đỉnh Tôn Tắng Đà La Ni như bên dưới:

1_Hay tiêu trừ tất cả tật ác với bệnh khổ của Thế Gian

2_Hay vĩnh viễn chẳng bị rơi vào ba đường ác

3_Hóa giải tất cả tai nạn, có thể dùng giáng phục tất cả Ma nạn

4_Hay ban cho chúng sinh Phước Tuệ, có thể dùng tiêu trừ sự ngu si và hoàn cảnh nghèo túng khốn khổ

5_Hay được sự sống lâu, tránh được tất cả tai ách, bị chết đột ngột

Người hay trì Chú này ắt hay trừ diệt tất cả nghiệp tội trong một trăm đời. Hay trừ bệnh đại ác, hay được an vui, tăng tuổi thọ, cải sửa khắp tất cả mệnh vận. Nếu khi lâm chung thời trì Chú được sinh về cõi nước của chư Phật.

09/02/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 09/02/2014

PHẬT NHÃN PHẬT MẪU TÂM CHÚ

PHẬT NHÃN PHẬT MẪU TÂM CHÚ (.PDF)

PHẬT NHÃN PHẬT MẪU TÂM CHÚ

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH 

Phật Nhãn Phật Mẫu là một Bản Tôn được Mật Giáo cúng phụng, là một Tôn trong bIến Trí Viện với Thích Ca Viện trong Thai Tạng Giới Mạn Trà La của Mật Tông. Lại xưng là Phật Nhãn (Buddha-locani), Phật Mẫu Tôn, Phật Mẫu Thân, Phật Nhãn Bộ Mẫu, Phật Nhãn Minh Phi, Hư Không Nhãn Minh Phi, Hư Không Tạng Nhãn Minh Phi, Nhất Thiết Như Lai Phật Nhãn Đại Kim Cương Cát Tường Nhất Thiết Phật Mẫu…

Phật Nhãn Phật Mẫu là Thần Biến của Đại Nhật Như Lai (Vairocana-tathāgata) hoặc Thích Ca Như Lai (Śākya-muṇi-tathāgata). Mật Hiệu là Thù Thắng Kim Cương, Công Đức ấy rất lớn, ở trong Mật Giáo là Bộ Chủ của Phật Bộ

Trong Đại Nhật Kinh Sớ nói rằng: “An trí Phật Nhãn cũng là mẹ của Thích Ca Mâu Ni. Phương này dịch là Năng Tịch Mẫu, thường tác ưa thích nhìn thế gian, thân đoan nghiêm không có gì so sánh được, khắp thân có hào quang tròn, vui thích mỉm cười. Đây là Như Lai tùy loại hình sinh ra Tam Muội. Tam Muội này dùng chính Đại Từ Phổ Nhãn làm Thể, quán sát ứng với chúng sinh, dẫn lối lợi ích. Ánh sáng của Từ Nhãn (con mắt hiền từ) không có gì chẳng chiếu soi khắp, cho nên nói là ánh sáng trong sạch tròn trịa khắp Thể (biến thể viên tịch quang)”

_Ở vô lượng Kiếp trước, Pháp Thể không có tơ hào nào gây trở ngại được, do mọi Đức viên mãn, thường trụ chẳng biến, chỉ đem ánh sáng chiếu hướng Pháp Giới. Ánh sáng này nguyên từ hai con mắt phát ra, nhân vậy mà kêu là Đại Từ Phổ Nhãn, do Đại Từ Phổ Nhãn hóa hiện thành Nhất Thiết Phật Nhãn Đại Kim Cương Cát Tường Nhất Thiết Phật Mẫu Tâm Tôn, ấy tức là ánh sáng của Đại Nhật Như Lai hóa thân làm Phật Nhãn Phật Mẫu vậy.

Phật Nhãn Phật Mẫu: Tại Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, an trí Phật Nhãn. Phật Nhãn này có hai, là ao hoa sen đoan nghiêm, trong ao đều có hào quang tròn vui thích không tận, chính là Ma Ha Song Liên Trì (cái ao to lớn có hai đóa hoa sen đồng sinh ra từ một cành), Tam Muội của Ma Ha Song Liên Trì chính là dùng Đại Từ Phổ Nhãn làm Thể, quán sát ứng với cúng sinh mà dẫn lối, Từ Nhãn không có gì chẳng chiếu soi khắp cả.

_Phật Nhãn Phật Mẫu Tâm Chú lại xưng là Nhất Thiết Phật Nhãn Đại Minh Mẫu Chân Ngôn.

Chú ngắn là: “Nam ma tam mãn đa một đà nam. Ông, một đà, lộ tả nễ, thoa cáp

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀ (?BUDDHĀNĀṂ)_ OṂ  BUDDHA-LOCANI  SVĀHĀ

_Kỳ Đặc Tối Thắng Kim Luân Phật Đỉnh Niệm Tụng Nghi Quỹ Pháp Yếu nói rằng: “Đây gọi là Nhất Thiết Phật Nhãn Đại Minh hay ngưng dứt điều đáng sợ khó điều phục, vì muốn thành tựu Thế Gian Xuất Thế Gian, tất cả Phật Đỉnh Đại Luân Vương Pháp, tất cả sự việc địa vị, diệt các tranh luận… cũng là mẹ của tất cả các chủng tộc của Phật, lại là mẹ sinh dưỡng của tất cả các Đại Bồ Tát. Vì nói Uy Đức kỳ đặc của Đỉnh Luân Chân Ngôn nên các Đại Bồ Tát đều mất Bản Tâm, Uy Lực của chư Thiên, Long Thần bị diệt mất. Phàm tụng Nhất Tự Phật Đỉnh Minh thì trước tiên nên tụng Phật Nhãn Minh, niệm tụng xong rồi, cũng tụng bảy biến thì chúng Thánh vui vẻ, hữu tình an vui”

09/02/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 09/02/2014

TÁM VỊ ĐẠI MINH VƯƠNG

TÁM VỊ ĐẠI MINH VƯƠNG (.PDF)

Bát Đại Minh Vương

Biên dịch: HUYỀN THANH

Kinh Đại Diệu Kim Cương Đại Cam Lộ Quân Noa Lợi Diễm Man Sí Thịnh Phật Đỉnh ghi chép là:

“Khi ấy Bồ Tát Kim Cương Thủ (Vajra-pāṇi) hiện làm Giáng Tam Thế Kim Cương Minh Vương (Trailokya-vijaya-vajra-vidyarāja) phóng ánh sáng màu xanh, miệng hiện ra hai răng nanh, phát tiếng cười A Tra Tra, dùng bàn tay phải ném chày Kim Cương năm chấu, nói Bát Tự Tâm Chân Ngôn là:

OṂ_ NISUMBHA-VAJRA  HŪṂ  PHAṬ

Bấy giờ Bồ Tát Diệu Cát Tường (Maṃjuśrī) hiện làm Lục Tý Lục Đầu Lục Túc Kim Cương Minh Vương (Ṣaḍ-bhūja-ṣad-śīrṣa-ṣad-pāda-vajra-vidyarāja) phóng ánh sáng màu đen xanh, răng cắn mội dưới, giương dựng mắt với lông my, tay cầm cây kiếm bén, nói Tam Tự Tâm Chân Ngôn là:

Hồng, ác, hồng”

HŪṂ  AḤ  HŪṂ

Khi ấy Bồ Tát Hư Không Tạng (Ākāśa-garbha) hiện làm Đại Tiếu Kim Cương Minh Vương (Mahāṭṭa-hāsa-vajra-vidyarāja) phóng ánh sáng màu tro đen, miệng hiện hình cười lớn, ló hai răng nanh lên trên, tay trái cầm cây gậy màu xanh, tay phải cầm sợi dây, nói Thập Tự Tâm Chân Ngôn là:

“Án, phộc nhật-la tra hạ sa dã, hồng, phán tra”

OṂ_ VAJRĀṬṬA-HĀSAYA  HŪṂ PHAṬ

Lúc đó Bồ Tát Từ Thị Tôn (Maitreya-nātha) hiện làm Đại Luân Kim Cương Minh Vương (Mahā-cajra-vajra-vidyarāja) khắp thân màu vàng, phóng lửa lớn, tay phải cầm bánh xe Kim Cương tám căm, tay trái dựng đứng một chày Kim Cương độc cổ, nói Lục Tự Tâm Chân Ngôn là:

“Án, phộc nhật-la tác cật-la, hồng”

OṂ_ VAJRA-CAKRA  HŪṂ

Bấy giờ Bồ Tát Quán Tự Tại (Avalokiteśvara), ở trên đỉnh đầu hiện làm Mã Đầu Kim Cương Minh Vương (Hayagrīva-vajra-vidyarāja) màu xanh biếc, phóng ánh sáng màu đỏ, tay phải dơ cao nằm ngang ở trên đỉnh đầu, cầm một hoa sen làm thế đánh, tay trái nắm Quân Trì Ấn, nói Thập Tự Tâm Chân Ngôn là:

“Án, hạ dã ngật-lý phộc, hồng, phán tra”

OṂ_ HAYAGRĪVA  HŪṂ  PHAṬ

Bấy giờ Bồ Tát Địa Tạng (Kṣiti-garbha) hiện làm Vô Năng Thắng Kim Cương Minh Vương (Aparājita-vajra-vidyarāja) khắp thân màu vàng, phóng lửa sáng, tay phải ném một cái chày Kim Cương, tay trái tác Nhĩ Ấn  hướng về cái miệng, nói Thập Tam Tự Chân Ngôn là:

Án, hộ lô hộ lô, tán noa lý, ma đẳng nghĩ, tát-phộc hạ”

OṂ_ HURU  HURU  CAṆḌALI  MATAṄGI  SVĀHĀ

Khi ấy Bồ Tát Trừ Cái Chướng (Nīrvaṇa-viṣkaṃbhin) hiện làm Bất Động Tôn Kim Cương Minh Vương (Acala-nāta-vajra-vidyarāja) khắp thân màu xanh, phóng lửa sáng rực, tay phải cầm cây kiếm, tay trái cầm sợi dây, rũ một lọn tóc xuống bên trái, nói Thập Tứ Tự Tâm Chân Ngôn là:

Án, a tả la, ca noa (1) tán noa, sa trì dã (2) hồng, dương tra”

OṂ_ ACALA  KAṆḌA  CAṆḌA  SĀDHAYA  HŪṂ  PHAṬ

Lúc đó Bồ Tát Phổ Hiền (Samanta-bhadra) hiện làm Bộ Trịch Kim Cương Minh Vương (Pandanakṣipa-vajra-vidyarāja), tay phải nắm một cái lọng xoay, tay trái cầm chày Kim Cương, khắp thân màu hư không, phóng lửa sáng rực, nói Thất Tự Tâm Chân Ngôn là:

Án, hột-lý-hồng, củ-lỗ-hồng, bột-lỗ-hồng, tố-lỗ-hồng, nhạ-lỗ-hồng, ngược”

OṂ _ HRĪṂ  VRŪṂ  BHRŪṂ  ŚRŪṂ  JRŪṂ  GAḤ

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 08/02/2014

NHƯ Ý LUÂN QUÁN ÂM TÙY TÂM CHÚ

NHƯ Ý LUÂN QUÁN ÂM TÙY TÂM CHÚ (.PDF)

NHƯ Ý LUÂN QUÁN ÂM TÙY TÂM CHÚ

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ
Việt dịch: HUYỀN THANH

Như Ý Luân Quán Âm có Mật Hiệu là Trì Bảo Kim Cương, là một thân biến hóa của Quán Thế Âm Bồ Tát.

Như Ý Luân Quán Âm dùng Lục Tý Như Ý Luân Quán Âm (Như Ý Luân Quán Âm có sáu cánh tay) rộng làm nơi cho Thế Gian cúng phụng

Căn cứ vào sự ghi chép của Quán Tự Tại Như Ý Luân Bồ Tát Du Già Pháp Yếu thì: “Bồ Tát có đủ sáu cánh tay, thân màu vàng ròng, ngồi ở trong vành trăng, Đỉnh Kế trên đầu đội mão báu trang nghiêm, trên mão có Đức Phật A Di Đà trụ tướng Thuyết Pháp. Bên phải: tay thứ nhất làm tướng suy tư biểu thị thương nhớ tất cả chúng sinh Hữu Tình, tay thứ hai cầm viên ngọc báu Như Ý biểu thị hay mãn túc Nguyện Vọng của chúng sinh, tay thứ ba cầm tràng hạt biểu thị hay cứu độ nỗi khổ của Bàng Sinh. Bên trái: tay thứ nhất đè núi Quang Minh có ý là hay thành tựu niệm tin tưởng (tín niệm) của chúng sinh không có lay động; tay thứ hai cầm hoa sen, dùng hoa sen ví dụ cho sự khiết tịnh, biểu thị hay tịnh trừ Pháp chẳng chính đúng của Thế Gian; tay thứ ba cầm bánh xe báu biểu thị hay chuyển bánh xe Pháp vô thượng. Cho nên có tên là Như Ý Luân (Cintā-maṇi-cakra). Sáu cánh tay biểu thị hay dạo ở sáu đường, dùng Tâm Đại Bi chặt đứt nỗi khổ của chúng sinh hữu tình”

_Như Ý Luân Quán Âm có Đại Thần Chú tên là Đại Liên Hoa Chiên Đàn Ma Ni Tâm Luân Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni. Sức uy thần của Pháp này giống như cây báu Ma Ni ban cho viên ngọc báu Như Ý, hay ban cho tất cả vật báu như cơn mưa tuôn xuống, mãn túc Nguyện Vọng của chúng sinh, hay được tiền tài của cải Thế Gian và Xuất Thế Gian

Chú Ngữ của Như Ý Luân Quán Âm có: ba loại Trường Chú, Đại Tâm Chú, Tùy Tâm Chú, chủ yếu y cứ theo Phật Thuyết Quán Tự Tại Bồ Tát Như Ý Tâm Đà La Ni Chú Kinh 

_Tùy Tâm Chú ấy là: “Ông, oa lạp đáp, bát đầu mê, hồng

OṂ_ VARADA  PADME  HŪṂ

Tụng Chú này một biến liền hay trừ tội miễn nạn, thành tựu sự nghiệp. Nếu ngày ngày tụng trì 108 biến thì thấy Đức Phật A Di Đà tự hiện thân ấy, cũng thấy mọi loại trang nghiêm của Thế Giới Cực Lạc, kèm thấy các chúng Bồ Tát của Thế Giới Cực Lạc, cũng thấy tất cả chư Phật ở mười phương, cũng thấy Tịnh Thổ mà Quán Thế Âm Bồ Tát đã cư ngụ, liền được thân của mình thanh tịnh, hoa sen hóa sinh đầy đủ các tướng, chẳng rơi vào đường ác, thường sinh ra trước mặt Đức Phật.

_Căn cứ vào sự ghi chép của Như Ý Luân Đà La Ni Kinh, Phẩm Đàn Pháp thì: “Như Ý Luân Mạn Trà La chia làm hai là Nội Viện, Ngoại Viện. Lại xưng là Bí Mật Như Ý Luân Đà La Ni Đại Mạn Trà La Ấn Tam Muội Gia. Trong Kinh ghi thuật đường lối là: “Người chẳng đủ sức, chỉ vẽ vị trí ngồi, đều ở trên vị trí ngồi viết chép tên gọi (danh tự), làm Pháp cúng dường cũng được thành tựu”

Bí Mật Mạn Trà La Tam Muội Gia này là nơi mà Thánh Quán Tự Tại hiện thân ban cho Nguyện. Là nơi mà tất cả chư Thiên, Minh Tiên, Thần kính trọng khen ngợi thủ hộ. Là nơi mà các hữu tình trừ hết tội chướng, là nơi thành tựu hai loại thuốc Thế Gian Xuất Thế Gian, tăng trưởng Phước Uẩn. Khi chết sẽ được sinh về cõi nước Cực Lạc ở phương Tây, hoa sen hóa sinh, mặc quần áo của cõi Trời để tự trang nghiêm, biết được Túc Mệnh Trí cho đến Bồ Đề chẳng bị rơi vào đường ác”

08/02/2014

 

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 08/02/2014

CÁT TƯỜNG HỶ KIM CƯƠNG TÂM CHÚ

CÁT TƯỜNG HỶ KIM CƯƠNG TÂM CHÚ (.PDF)

CÁT TƯỜNG HỶ KIM CƯƠNG TÂM CHÚ

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Hỷ Kim Cương (Hevajra) lại xưng là Đại Bi Không Trí Kim Cương.

_Hỷ Kim Cương Bản Tục, Hán dịch là Đại Bi Không Trí Kim Cương Đại Giáo Vương Kinh (Mahātantra-rāja-māyākalpa. Hoặc Hevajra ḍākinī-jāla saṃvara-tantra)

_Hỷ Kim Cương Bản Tục ở trong bốn loại Đát Đặc La (Tantra) của Mật Giáo thì thuộc Vô Thượng Du Già Bộ

Ý tứ của Đại Bi Hỷ. Mặt bên ngoài của vị ấy tuy hiển hiện tướng phẫn nộ, kỳ thật bên trong (nội tại) là Từ Bi phi thường “Ta dùng phẫn nộ của Ta, hiển hiện Từ Bi của chính mình”. Ấy là hình tượng của Kim Cương Thần. 

_Hỷ Kim Cương tại Mật Giáo là Tôn thứ nhất, đầu tiên hiện ra  Đại Hách Lỗ Cát (Mahā-Heruka). Hách (He) là Tính trống rỗng (Śūnyatā: Không Tính), Lỗ (Ru) là chặt đứt tất cả nhiễm, Cát (Ka) là không có nơi chốn (sở tại)

_Ý nghĩa chân chính của hình tượng Hỷ Kim Cương có 7 điểm:

1_Vị ấy là Kim Cương bất hoại, do Chân Lý là bất hoại

2_Vị ấy là vua của Đại Lực, như mặt trời mặt trăng, một dạng ánh sáng của Địa (Bhūmi) rực rỡ xán lạn

3_ Vị ấy hay thành tựu đủ tất cả của Thế Gian

4_ Vị ấy là vua của sự giải thoát thuộc Xuất Thế Gian (Lokottara). Vị ấy chẳng những đã thành tựu Pháp Thế Gian (Loka) mà còn hay chuyển nhượng đủ cho bạn tăng thêm Trí Tuệ, được đến Không Tính (Śūnyatā) rốt ráo, thành tựu sự giải thoát của Xuất Thế Gian.

5_Đại Tham của vị ấy là phương tiện Đại Lạc. Nhân vì có lợi ích của Tham, là một loại phương tiện và khoái lạc

6_Bản chất phẫn nộ của vị ấy là Đại Bi (Mahā-kāruṇa) biểu hiện trên mặt rất phẫn nộ, kỳ thật bên trong của vị ấy thì rất Từ Bi.

7_Hỷ, Xả của vị ấy là Phật Tính (Buddhatā) của phương tiện (Upāya) và Trí Tuệ (Prajña). Vị ấy là Địa (Bhūmi) rất vui vẻ và Từ Bi, tận hết thảy lực lượng để cứu độ chúng sinh.

_Hỷ Kim Cương Tâm Chú tức là Không Trí Kim Cương Tâm Chân Ngôn:

Ông, đế ngõa, tất chủ, ngõa nhật lạp, hồng hồng hồng, phát tra, thoa cáp

OṂ_ DEVA  PICU  VAJRA, HŪṂ  HŪṂ  HŪṂ  PHAṬ,  SVĀHĀ

Hành Giả Mật Giáo y theo Nghi Quỹ Hỷ Kim Cương sinh khởi Hỷ Kim Cương (Hevajra) rồi lại được sự gia trì của Bản Tôn Hỷ Kim Cương. Nhờ vào sự gia trì của Hỷ Kim Cương cũng tụ hội sinh ra lực lượng của Chú. Như sức Chú này cũng tụ hội phát huy rốt ráo. Chủ yếu là Hành Giả Mật Giáo nên trước tiên quy y Căn Bản Thượng Sư và tiếp nhập sự Quán Đỉnh của Hỷ Kim Cương, mới là như Pháp tu trì.

08/02/2014

 

 

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 08/02/2014

ĐẠI UY ĐỨC MINH VƯƠNG TÂM CHÚ

ĐẠI UY ĐỨC MINH VƯƠNG TÂM CHÚ (.PDF)

ĐẠI UY ĐỨC MINH VƯƠNG TÂM CHÚ

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Đại Uy Đức Minh Vương, Phạn Ngữ Diêm Mạn Đức Ca (Yamantāka). Lại xưng là Lục Diện Tôn, Lục Túc Tôn, Đại Uy Đức Vương.

_Theo lệ thường như Thánh Diêm Mạn Đức Ca Uy Nộ Vương lập thành Đại Thần Nghiệp Niệm Tụng Pháp nói rằng: “Thánh Diêm Mạn Đức Ca Uy Nộ Vương”

 .) Diêm Mạn Đức Ca Phẫn Nộ Vương Chân Ngôn Đại Uy Đức Nghi Quỹ Phẩm nói rằng: “Diêm Mạn Đức Ca Phẫn Nộ Vương”. Lại nói là: “Đại Uy Đức Tôn”

 .) Đại Nhật Kinh Sớ nói là: “Giáng Diễm Ma Tôn”

 .) Bí Tạng Ký, phần cuối ghi là: “Diêm Ma Đức Ca Tôn”

 .) Nhân Vương Kinh Nghi Quỹ nói là: “Uy Nộ Lục Túc Kim Cương”

_Đại Uy Đức Minh Vương Giáo Lệnh Luân Thân của Đức A Di Đà Như Lai (Amitāyus-tathāgata:Vô Lượng Thọ Như Lai) ở phương Tây, Tự Tính Luân Thân ấy là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (Maṃjuśrī-bodhisatva)

Bổ Đà Lạc Hải Hội Quỹ nói là: “Lục Túc Tôn là Phẫn Nộ của Vô Lượng Thọ Phật, Tự Tính Luân là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát

Đại Uy Đức hay giáng phục Diễm Ma (Yama) cho nên gọi là Giáng Diễm Ma Tôn

_Tán Diêm Mạn Đức Ca Phẫn Nộ Vương Chân Ngôn Nghi Quỹ Phẩm nói rằng: “Việc phẫn nộ bộc lộ sự đáng sợ, hay hoại Tỳ Na La cũng chặt đứt Mệnh của Diêm Ma, phẫn nộ mạnh mẽ làm Thường Nghiệp (nghiệp thông thường)”

_Nghi Quỹ tu hành hoàn chỉnh của Đại Uy Đức Minh Vương, tại đời Tống đã có Kinh Điển dịch theo tiếng Hán như: Phật Thuyết Diệu Cát Tường Tối Thắng Căn Bản Đại Giáo Kinh, Phật Thuyết Diệu Cát Tường Du Già Đại Giáo Kim Cương Bồi La Phộc Luân Quán Tưởng Thành Tựu Nghi Quỹ Kinh.

_Nhìn chung thường niệm Đại Uy Đức Minh Vương Tâm Chú:

Ông, truất lợi, tạp lạp lỗ bạch, hồng, kham, thoa cáp”

OṂ_ HRĪḤ  KALA-RUPA   HŪṂ   KHA  SVĀHĀ

(Theo người dịch thì Tâm Chú này là: OṂ_ HRĪḤ  KĀLA-RŪPA  HŪṂ  KHAṂ  SVĀHĀ) 

_ Đại Uy Đức Kim Cương cũng xưng là Bố Úy Kim Cương, tại Mật Giáo thì thuộc ở vô Thượng Du Già Pháp Hệ. Nhân vị ấy hay giáng phục Ma ác, có Pháp Lực ngưng ác hướng Thiện cho nên gọi là Đại Uy Đức

9 khuôn mặt của Đại Uy Đức Kim Cương biểu trưng cho 9 Bộ Khế Kinh của Đại Thừa

34 bàn tay với thân ngữ ý biểu trưng cho 37 Đạo Phẩm

16 bàn chân biểu trưng cho 16 Không Tính

Ôm ấp Minh Phi biểu trưng cho Đại Lạc

Đám lửa Kim Cương của phẫn nộ ấy biểu trưng cho Từ Bi thanh tịnh của sự giáng phục, tồi hủy ác cũng là làm Thiện

Cái đầu cao nhất (tối thượng) của Đại Uy Đức Kim Cương là màu vàng, trình hiện Bản Tướng của Văn Thù, tượng trưng dính với Từ Bi.

Trừ cái đầu Bồ Tát cao nhất đội mão báu hoa lệ, tám khuôn mặt còn lại ấy đều đội mão năm đầu lâu

Sắc mặt của con trâu và hai cái sừng trâu đại biểu cho Giáo Pháp Huyễn Thân Quang Minh

Ấy là tinh tủy của Mật Tục Giáo Pháp 

07/02/2014

 

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 07/02/2014

CAM LỘ QUÂN TRÀ LỢI CHÂN NGÔN

CAM LỘ QUÂN TRÀ LỢI CHÂN NGÔN (.PDF)

CAM LỘ QUÂN TRÀ LỢI CHÂN NGÔN

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH 

Quân Trà Lợi Minh Vương (Kuṇḍali-vidya-rāja) là một trong năm vị Đại Minh Vương của Mật Giáo, lại xưng là Cam Lộ Quân Trà Lợi Minh Vương (Amṛta-kuṇḍali-vidya-rāja) dịch ý là Cam Lộ Minh Vương (Amṛta-vidya-rāja), Cam Lộ Tôn (Amṛta-nātha). Nhân vì Minh Vương hiển tướng là tướng phẫn nộ cho nên có danh xưng là Quân Trà Lợi Dạ Xoa (Kuṇḍali-yakṣa).

Nghĩa của Quân Trà Lợi (Kuṇḍali) là từ cái bình báu tuôn ra nuớc Trí Cam Lộ tẩy rửa phiền não rồi cùng đem Tính Si Mạn của Ta tương ứng với Thức thứ bảy (Manas-vijñāna: Mạt Na Thức) chuyển thành Bình Đẳng Tính Trí (Samatā-jñāna), cho nên ở trong các Nghi Quỹ phần nhiều xưng Tôn này là Cam Lộ Quân Trà Lợi. 

_Tôn Quân Trà Lợi Minh Vương ở trong Kim Cương Giới Mạn Trà La (Vajra-dhātu-maṇḍala) là Giáo Lệnh Luân Thân của Đức Phật Bảo Sinh (Ratna-saṃbhava), hiện thân phẫn nộ, có vị trí ở góc Tây Nam trong Giáng Tam Thế Hội. Hình Tượng ấy là một mặt, ba mắt, tám cánh tay, tay cầm vũ khí, lưng có lửa rực, dùng thân rắn quấn ràng thay cho Anh Lạc

_Tôn Quân Trà Lợi Minh Vương Tô Tất Địa Viện trong Thai Tạng Giới Mạn Trà La (Garbha-dhātu-maṇḍala) là Kim Cương Quân Trà Lợi (Vajra-kuṇḍali), Mật Hiệu là Cam Lộ Kim Cương, là sứ giả của Phật Bộ (Buddha-kulāya). Hình tượng là màu vàng, kết Ấn ở trước ngực, ngồi trên hoa sen đỏ.

 

)Tôn Quân Trà Lợi Minh Vương Quán Âm Viện  (trong Thai Tạng Giới Mạn Trà La) là Liên Hoa Quân Trà Lợi (Padma-kuṇḍali), Mật Hiệu là Giáng Phục Kim Cương, là sứ giả của Liên Hoa Bộ (Padma-kulāya). Hình tượng là màu xanh, tay trái cầm hoa sen chưa nở, khoác áo Trời.

_Tôn Quân Trà Lợi Minh Vương Kim Cương Thủ Viện (trong Thai Tạng Giới Mạn Trà La) cũng là Kim Cương Quân Trà Lợi (Vajra-kuṇḍali), Mật Hiệu là Cam Lộ Quân Trà Lợi, là sứ giả của Kim Cương Bộ (Vajra-kulāya). Hình tượng là màu vàng, hai tay tác Tam Cổ Ấn giao cổ tay ở trước ngực. 

_Do Cam Lộ Quân Trà Lợi Minh Vương ở trong Mật Tông thì có tên gọi là Biện Sự Kim Cương, nên Liên Sinh Hoạt Phật thường tu tập. Người phụng Pháp này có thể trừ khử bệnh Ma, Chướng của rắn, nóng bức, biếng ăn, mỗi một nhóm bệnh mờ tối. Minh Vương này tại phương diện trị bệnh rất có công lực. 

_Bình thời, tu Pháp Đàn Trường, kết Giới thanh tịnh thì có thể dùng Quân Trà Lợi Minh Vương Chú Thủy. Niệm Quân Trà Lợi Minh Vương Tiểu Chú: “Ông, a di lợi đắc, hồng, phối” bảy biến

OṂ_ AMṚTA  HŪṂ  PHAṬ

Quán tưởng nhập vào trong nước, hướng về bốn phương Đông Nam Tây Bắc dùng búng ngón tay rưới vảy một lần, rồi tự mình cũng uống một chút.

Quân Trà Lợi Minh Vương Chú Thủy biểu thị cho “Đông, Nam, Tây, Bắc, Trung Ương” tất cả thanh tịnh 

06/02/2014

 

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 07/02/2014

UẾ TÍCH KIM CƯƠNG CHÂN NGÔN

UẾ TÍCH KIM CƯƠNG CHÂN NGÔN (.PDF)

UẾ TÍCH KIM CƯƠNG CHÂN NGÔN

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Trong Uế Tích Kim Cương Kinh ghi chép là: “Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tùy theo trái tim bên trái, hóa sinh vị Kim Cương Bất Hoại ở trong Chúng đứng dậy, bạch với Đại Chúng rằng: “Ta có Đại Thần Chú hay bắt lấy Phạm Vương” Nói lời này xong, ở trong Chúng hiển Đại Thần Thông”

Uế Tích Kim Cương (Ucchuṣma-vajra) là Hóa Thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là Giáo Lệnh Luân Thân (Ādeśana-cakra-kāya) của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

_Đức Phật ở tại hai cây Bà La (Śāla) bên sông Bạt Đề (Ajita-vatī), khi chính yếu vào Niết Bàn (Nirvāṇa) thời có Loa Kế Phạm Vương đem chúng Thiên Nữ đi theo cùng nhau hưởng dục lạc, chẳng đến thăm hỏi Đức Phật Đà. Có rầt nhiều vị Tôn Giả, Môn Phái, đủ trăm ngàn Chúng với Chú Tiên và Kim Cương Thần… trước tiên đi đến nơi dục lạc của Loa Kế Phạm Vương, đều bị Loa Kế Phạm Vương dùng vật dâm uế bất tịnh làm cho toàn bộ bị khốn đốn hết. Lúc này, Đức Phật dùng Căn Bản Trí phát ra ánh sáng Thường Lạc Tịch, tùy ánh sáng xoay chuyển theo bên trái, từ trong trái tim hóa ra một Tôn Kim Cương Thần. Tôn Kim Cương Thần ấy được tôn xưng là Mật Tích Lực Sĩ Đại Quyền Thần Vương Phật. Lại nhân vì duyên phá khí dơ uế cho nên lại xưng là Uế Tích Kim Cương. Vị Kim Cương Thần ấy là Hóa Thân Kim Cương của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhảy lên hư không bay đến cung Trời của Loa Kế Phạm Vương, một lần chỉ vào khí dơ uế thì khí dơ uế cũng biến thành Tịnh Thổ, nắm lấy Chú Tiên với Kim Cương Thần bị vây khốn, toàn bộ được giải phóng thoát ra bên ngoài. Trong khoảng thời gian rất ngắn, cũng bắt Loa Kế Phạm Vương chế phục, mang đến trước mặt Đức Phật Đà. Loa Kế Phạm Vương sám hối lỗi lầm trước kia, phát Tâm tu tập Phật Pháp, hộ trì.

_Tu hành Mật Tích Lực Vương Đại Quyền Thần Vương Uế Tích Kim Cương Pháp, nếu có tương ứng sẽ mau chóng thành Phật, được Phật Bồ Tát thọ ký. Nếu có sấm chớp, sét đánh, Rồng độc. gió lớn, mưa lớn, mưa đá, Thiên Tai… Người hành Pháp tương ứng, niệm Chân Ngôn dùng Ấn chỉ từ xa sẽ mau chóng liền được ngưng dứt, trị bệnh Tà: có thể ở bên cạnh đầu của người bệnh, đốt hương tụng Uế Tích Kim Cương Chân Ngôn thì lập tức trừ khỏi.

_Tu Mật Tích Kim Cương Pháp tương ứng thì có thể trị Cổ Độc, phá tất cả khí dơ uế, dựng lập Pháp Giới (Dharma-dhātu) Quỷ chẳng dám vào, lại có thể sai khiến Quỷ Thần, hay khiến cho cây khô sống lại, suối khô cạn sinh ra nước, núi khô cằn sinh ra cây cối, Dã Thú thuận phục, Dạ Xoa (yakṣa) La Sát (Rākṣasa) biến thành thị vệ của Hành Giả, Quỷ ác chẳng dám lừa gạt, cầu tất cả đều hay cát tường như ý, tất cả đều hay làm được.

_Phàm người tụng Chân Ngôn, cần yếu trước tiên tụng danh hiệu mười tiếng

“Nam ma Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Nam ma Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật

Nam ma Đại Quyền Thần Vương Phật”

 

_Tâm Chú là:

Ông, cụ lô đô lam, hồng, nặc”

OṂ_ KRODHANA  HŪṂ  JAḤ

 

06/02/2014

 

 

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 05/02/2014

ĐẠI BẠCH TẢN CÁI PHẬT MẪU KIÊN GIÁP CHÚ

ĐẠI BẠCH TẢN CÁI PHẬT MẪU KIÊN GIÁP CHÚ (.PDF)

ĐẠI BẠCH TẢN CÁI PHẬT MẪU KIÊN GIÁP CHÚ

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu Kim Cương Đỉnh Kế Đại Hồi Già Mẫu, Chủ Tể Liễu Tam Giới Trung Vi Đích Nhất Thiết Chúng Sinh (?Chủ Tể Tam Giới Trùng Vi Mẫu)

Uy Lực của Đại Bạch Tản Cái Tâm Chú hay khiến cho Oán Địch tự hàng phục lui tan; khiến cho Thiên Ma, Tà Ma lui tan kèm hủy nát tất cả Giáng Đầu, Trớ Chú. Phá ba Ma: Thiên Địa Thủy (Thiên Ma, Địa Ma, Thủy Ma). Phàm tật ách, mộng ác chẳng an, Võng Lượng, Quỷ Mỵ …đều có thể phá hết.

 

_Y theo trong Kinh Phật Thuyết Đại Bạch Tản Cái Tổng Trì Đà La Ni ghi chép phương pháp Quán Tu là:

Người muốn tu tập Bạch Tản Cái Phật Mẫu có thể chọn một Tịnh Thất, vắng lặng mà ngồi rồi phát Nguyện rằng: “Vì tất cả Hữu Tình của 6 nẻo đang ở trong Luân Hồi, khiến cho họ được giải thoát. Nguyện cho tôi được thành Cứu Cánh Chính Giác

Quán tưởng Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu Hải Hội trong hư không. Ở chỗ ấy, dùng Tâm chân thật quy y Phật Mẫu (Buddha-mātṛ). Phật Mẫu Hải Hội tiêu dung thành ánh sáng hòa nhập vào thân của mình, thành ánh sáng. Niệm Quán Không Chú, ở trong hư không trên đóa hoa ánh sáng trong vành trăng quán tưởng chữ Ông (湡_OṂ) màu trắng. Chữ Ông tự phóng ánh sáng rồi ánh sáng ấy quay trở lại, chữ Ông biến thành cái cán vàng ròng của cái lọng trắng, trên cái cán có chữ Ông (湡_OṂ), chữ ấy phóng ánh sáng rồi lại quay về. Chữ Ông biến thành Bạch Tản Cái Phật Mẫu (Sitātapatra Buddha Mātṛ ) có một mặt 2 tay, đủ 3 con mắt, ngồi theo thế Kim Cương Già Phu, tay phải tác Vô Bố Úy Ấn, tay trái cầm cái lọng trắng để ngang ngực, nghiêm sức bằng mọi thứ Anh Lạc. Thân màu trắng tinh khiết như ánh mặt trời chiếu soi trên núi Tuyết, có đủ tướng vui vẻ, hiển Vô Tự Tính (Không có Tự Tính). Nên quán như tướng ở trong gương.

Khi tụng Chú thời, ở trên vành mặt trời tại hoa sen trong trái tim của mình có chữ của Chú vây quanh chữ Ông nhiễu quanh trái tim, phóng ra ánh sáng khiển trừ tất cả tội chướng của Ta và Người.

Nếu lúc bị mệt mỏi thời muốn dâng Thí Thực, liền đặt thức ăn cúng thí ấy ở trước mặt, niệm 3 chữ Ông A Hồng (OṂ  ĀḤ  HŪṂ) nhiếp thụ biến thành Cam Lộ. Trong Hư Không trước mặt, triệu thỉnh Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu làm đầu, kèm với các vị Âm Mẫu cư ngụ ở 22 nơi có gò mả trên núi (Sơn Trủng), 7 Chủng Phật với Chính Giác ở mười phương”

_Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu Kiên Giáp Chú:

Hồng, ma ma, hồng, ni, thoa cáp”

HŪṂ  MAMA  HŪṂ  NI  SVĀHĀ 

_Kiên Giáp Chú của Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu là Pháp rất bí mật của Mật Tông, có công năng trấn hộ quốc gia, đẩy lui cường địch, ngưng dứt tai vạ, giải trừ nạn.

Đại Bạch Tản Cái Kiên Giáp Chú. Chú này chẳng thể nghĩ bàn, là Chú vô thượng cứu độ khắp chúng sinh, hộ trì chúng sinh.

 

05/02/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 05/02/2014

BẤT KHÔNG QUYẾN SÁCH QUÁN ÂM TÂM CHÚ

BẤT KHÔNG QUYẾN SÁCH QUÁN ÂM TÂM CHÚ (.PDF)

BẤT KHÔNG QUYẾN SÁCH QUÁN ÂM TÂM CHÚ

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Bất Không Quyến Sách Quán Âm (Amogha-pāśa Avalokiteśvara) lại xưng là Bất Không Vương Quán Thế Âm Bồ Tát, Bất Không Quảng Đại Minh Vương Quán Thế Âm Bồ Tát, Bất Không Tất Địa Vương Quán Thế Âm Bồ Tát, Bất Không Quyến Sách Bồ Tát… Mật Hiệu là Đẳng Dẫn Kim Cương (Samāhita-vajra), dùng sợi dây Bất Không làm tên gọi, là tượng trưng cho Quán Thế Âm Bồ Tát dùng sợi dây Đại Từ Bi cứu độ, hóa đạo chúng sinh. Tâm Nguyện ấy là ý chẳng bị rơi vào Không (Śūnya:trống rỗng)

Y theo sự ghi chép của bất Không Quyến Sách Thần Biến Chân Kinh là: “Ngay kiếp cuối cùng của kiếp thứ 91 ở đời quá khứ, Quán Thế Âm Bồ Tát từng trải qua tiếp nhận sự truyền thụ của Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai, mà học được Bất Không Quyến Sách Tâm Vương Mẫu Đà La Ni và ngay lúc mới được Đà La Ni này thời liền chứng được mười trăm ngàn Bất Không Vô Hoặc Trí Trang Nghiêm Thủ Tam Ma Địa Môn. Do sức của Chân Ngôn này, hiện thấy hết thảy Hội Chúng của chư Phật Như Lai trong vô lượng vô số mọi loại cõi nước ở mười phương, rồi đều cúng dường, lắng nghe Pháp thâm sâu, triển chuyển giáo hóa vô lượng hữu tình đều đước phát hướng Vô Thượng Bồ Đề (Agra-bodhi). Sau này, Quán Thế Âm Bồ Tát liền thường dùng Giáo Pháp của Chân Ngôn ấy hóa đạo vô lượng trăm ngàn chúng sinh”

Bất Không Quyến Sách Quán Âm có Quảng Đại Bất Không Ma Ni Cúng Dường Đà La Ni, thường niệm Chú này liền thành cúng dường rộng lớn

_Bất Không Quyến Sách Quán Âm Tâm Chú

Ông, a ma cát, tỳ xà gia, hồng, phán tra”

OṂ_ AṂMOGHA  VIJAYA  HŪṂ  PHAṬ

(Theo người dịch thì câu Chú này là: OṂ_ AMOGHA  VIJAYA  HŪṂ  PHAṬ)

Y theo Bất Không Quyến Sách Đà La Ni Kinh đã thuật là: “Bất Không Quyến Sách Tâm Chú gọi là Pháp của Bất Không Thành Tựu (Amogha-siddhi) đều hay tịnh trừ Nghiệp Chướng trong vô lượng vô biên Thế Giới, gom chứa vô lượng tư lương (Sambhāra) Phước Đức, tăng trưởng căn lành thảy đều hay sinh vô biên Trí Tuệ, vượt qua được vào cảnh giới Thần Thông. Đầy đủ phương tiện khéo léo, sáu Ba La Mật. Tăng trưởng tất cả Lực, Vô Sở Úy Bất Không Phật Pháp của tất cả Bồ Tát với bốn Thánh Đế, Thần Túc, Căn, Lực, Giác Đạo. Được Định, nhân duyên giải thoát, Tam Muội (Samādhi), Tam Ma Bát Để (Samāpatti:Đẳng Chí)… hay khiến cho người nhìn thấy, tu tập thành tựu sức Trí Tuệ uy đức của Thanh Văn, Duyên Giác, Phật Địa. Thành tựu đầy đủ thông minh, Phước Đức, Cát Tường, cần dũng tinh tiến, thế lực, biện tài. Bay trên hư không, ẩn hình tự tại, địa vị của Trì Chú Tiên. Đầy đủ sự ưa thích của Thế Gian, nhiều tiền của, phú quý. Thành tựu Pháp Hiền Bình Như Ý Châu. Giáng phục Khẩn Yết La (Kiṃkarā:thị giả, nô tỳ), Chế Trích Ca (Ceṭaka:Sứ Giả). Lấy các Phục Tàng (kho tàng chôn dấu), vào hang (?hang A Tu La), thuốc An Thiện Na… đều hay chữa trị trừ khỏi tất cả các bệnh do Quỷ Mỵ gây ra, Chú kết Đàn Pháp, giáng phục các Rồng với hàng nam tử, phụ nữ, đồng nam, đồng nữ. Cầu mưa, ngưng mưa, tiêu diệt giáng phục tai vạ, bệnh dịch… hay thành tất cả các việc, hưng tất cả Phước, diệt tất cả tội, thành tựu vô biên Môn, Đà La Ni, Tam Muội… được Pháp rộng lớn tối thắng.

05/02/2014

 

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 05/02/2014

HƯ KHÔNG TẠNG CẦU VĂN TRÌ CHÂN NGÔN

HƯ KHÔNG TẠNG CẦU VĂN TRÌ CHÂN NGÔN (.PDF)

HƯ KHÔNG TẠNG CẦU VĂN TRÌ CHÂN NGÔN

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Tu tập Hư Không Tạng Bồ Tát cầu Văn Trì Pháp hay khiến cho Trí Tuệ của chính mình tăng rộng, với sức ghi nhớ tăng lớn hơn, nghe tiếng trì Kinh một lần trải qua tai mắt cũng hay ghi trụ ở Tâm, vĩnh viễn không có dời mất.

Hình tượng của Hư Không Tạng Bồ Tát (Ākāśa-garbha-bodghisatva): “Đầu đội mão năm Phật, tay phải gấp cong lại cầm cây kiếm, cây kiếm có lửa sáng, tay trái để bên cạnh eo nắm quyền cầm hoa sen, trên hoa sen có vật báu như viên ngọc. Hư Không Tạng Bồ Tát màu trắng, ngồi trên hoa sen màu xanh”

_Trọng điểm của Hư Không Tạng Bồ Tát cầu Văn Trì Pháp như bên dưới:

1_ Trước tiên, cúng phụng Hư Không Tạng Bồ Tát. Đầu tiên ở trước tượng Bồ Tát, trì Văn Trì Chân Ngôn của Hư Không Tạng Bồ Tát

“Nam ma a ca xả yết bà gia. Ông a lợi, ca mã lợi, mộ lợi, thoa cáp”

NAMO  ĀKĀŚA-GARBHĀYA_ OṂ_ ARI  KAMARI  MURI  SVĀHĀ

Bình thời trì Chú này ở ngay trước tượng, thiết yếu trì đủ một trăm vạn biến

2_ Chú ý ngày có Nhật Thực hoặc Nguyệt Thực. Nếu ngày có Nhật Thực hoặc Nguyệt Thực, lấy hương hoa với thức ăn uống cúng dường Hư Không Tạng Bồ Tát. Lại dùng một cái chén nước đun sôi (khai thủy) cúng, rồi ngồi tĩnh tọa trước tượng.

3_ Tay kết hư Không Tạng Ấn: dựng thẳng hai ngón trỏ cùng vịn nhau như hình báu, hai ngón cái cùng dựa sát nhau, các ngón còn lại cài chéo nhau.

4_ Quán Tưởng: Nắm giữ rất rõ ràng hình tượng của Hư Không Tạng, tưởng niệm ở hư không ngay phương trước mặt. Lại quán tưởng lửa sáng (màu trắng) của cây kiếm báu của Hư Không Tạng như một dạng lửa mạnh bay dấy mau chóng, bắn ra một đường lửa của cây kiếm thành hình cầu vồng, bay vào trong nước đun sôi cúng phụng. Lại quán tưởng câu báu trên hoa sen hiện ra một đường ánh sáng màu trắng, luồng ánh sáng cũng bắn vào nước trong cái chén. Luồng ánh sáng trên cây kiếm báu ấy cũng là ánh sáng của cây kiếm Trí Tuệ dùng phá trừ nghiệp chướng ngu muội tích lũy trong nhiều đời, chém đứt tất cả sự ràng buộc của nghiệp đen (Hắc nghiệp). Luồng sáng của châu báu cũng là ánh sáng của Quả Trí Tuệ dùng tăng thêm luồng sáng Trí Tuệ của Hành Giả Mật Tông, có ý bền chắc chẳng quên

5_ Quán tưởng hai luồng ánh sáng kết thúc, liền trì tiệm Văn Trì Chân Ngôn của Hư Không Tạng Bồ Tát 108 biến.

6_ Chú trì xong, lấy nước đun sôi cúng dường, đem hình tượng mặt trời mặt trăng của Nhật Thực Nguyệt Thực, tưởng nhập vào trong nước đun sôi. Tức đại biểu trong nước đun sôi này có ánh sáng của cây kiếm Trí Tuệ, ánh sáng của Quả Trí Tuệ, ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng… rồi sau đó uống một lần và hạ xuống. Lại cầu xin Hư Không Tạng Bồ Tát cho chính Hành Giả được dung nhập hợp nhất

04/02/2014

 

 

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 04/02/2014

ĐẠI LUÂN KIM CƯƠNG ĐÀ LA NI

ĐẠI LUÂN KIM CƯƠNG ĐÀ LA NI (.PDF)

image001

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Đại Luân Kim Cương Đà La Ni được trích ra từ Kinh Phật Thuyết Đại Luân Kim Cương Tổng Trì Đà La Ni. Chú Văn như bên dưới:

“Nam ma ty đắc lý nha, đề duy ca lan, đả tha cát tha lan. Ông, duy lạp cập, duy lạp cập, ma cáp giai cát lạp, phạp cập lý, sái đả sái đả, sái lạp đắc, sái lạp đắc, đức lạp nhất, đức lạp nhất, duy đạt ma nễ, tam ban gia nễ, đắc lạp ma để, tế đạt, cách lý nha, đắc lan, thoa cáp”

NAMA  SITRYIYA-DHVIKĀṆĀṂ TATHĀGATĀṆAṂ

OṂ_ VIRAJI  VIRAJI, MAHĀ-CAKRA-VAJRI, SATA  SATA, SARATE  SARATE, TRAYI  TRAYI, VIDHAMAṆI  SAṂBHAJANI  TRAMATI  SIDDHĀGRIYA  TRAṂ  SVĀHĀ

(Theo người dịch thì câu Chú này là: NAMO  STRIYYA-DHVIKĀNĀṂ TATHĀGATĀNĀṂ_ OṂ_ VIRAJI  VIRAJI, MAHĀ-CAKRA-VAJRI, SATA  SATA, SARATE  SARATE, TRAYI  TRAYI, VIDHAMATI  SAṂBHAṂJANI  TRAMATI  SIDDHA-AGRI  TRAṂ  SVĀHĀ)

Căn cứ vào sự ghi chép của Kinh Phật Thuyết Đại Luân Kim Cương Tổng Trì Đà La Ni: “Hàng Kim Cương các ông nay ở Hội này, nghe Pháp bí mật. Hàng Kim Cương các ông nghe phương pháp trì Chú, mau chóng trước tiên tụng Đại Luân Kim Cương Đà La Ni Thần Chú. Ông chẳng trì Pháp Môn này thì tất cả các Chú, giả sử khiến có hiệu nghiệm. Do có tội hành Pháp trộm cắp dối trá (Ngụy Đạo pháp), sau khi diệt độ bị rơi vào Địa Ngục, chịu tội khổ xong sẽ rơi vào nẻo súc sinh. Hành dối trá bị tội như vậy.

Nếu có kẻ trai lành, người nữ thiện với vô lượng Thiên Tiên, Kim Cương, Bồ Tát, vô lượng Dược Xoa, tất cả hàng Quỷ Thần… hãy khéo nghe! Ta sẽ vì các ngươi nói Quán Đỉnh Thần Chú, tụng 21 biến hay thành tất cả Chú Pháp, mau được thành tựu việc Thiện

Chú ấy tức là tất cả chư Phật mười phương trong đời quá khứ nhân vào Đà La Ni này thảy đều thành Phật Đạo, tất cả Bồ Tát đều đến Phật Đạo, tất cả Kim Cương đều được thân chẳng hoại, tất cả người Tiên được thành tựu.

Người tụng Chú này hay thành tất cả Ấn Pháp, tất cả Đàn Pháp, sẽ vào Mạn Đà La Đàn, chẳng dùng Sự Đàn.

Nếu làm Sự Đàn, gặp mọi loại tai nạn khởi như: nạn của Trời, nạn của đất, nạn vua chúa, nạn giặc cướp, nạn nước, nạn lửa, nạn của tất cả Dạ Xoa La Sát, nạn của Trời Rồng Quỷ Thần, nạn của các Ma tất cả người…. Tụng Chú đó bảy ngày bảy đêm, trong sạch đốt hương, ở trước Tôn Tượng, tụng Chú này, sám hối ba Nghiệp thì tất cả tội đều được tiêu diệt, tất cả Quỷ Thần thảy đều vui vẻ, hết thảy tất cả các bệnh trên thân đều được trừ khỏi”

_Đại Tạng Bí Yếu nói rằng: “Y trong Mật Giáo nói tất cả Chân Ngôn, Thủ Ấn đều theo Thầy thọ nhận. Nếu chưa vào Quán Đỉnh Luân Đàn mà tự ý kết Thủ Ấn làm Pháp thì bị tội trộm Pháp, chỗ làm chẳng thành. Nếu ở trước tượng Như La tụng Chú này  21 biến liền như thấy Phật, tức đồng vào tất cả Mạn Trà La, các Pháp đã mong cầu đều được thành tựu”

04/02/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 04/02/2014

TỊNH TAM NGHIỆP CHÂN NGÔN

TỊNH TAM NGHIỆP CHÂN NGÔN (.PDF)

TỊNH TAM NGHIỆP CHÂN NGÔN

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Tịnh Tam Nghiệp Chân Ngôn tức là Quán Không Chú. Chú Ngữ ấy có thể dùng Tự Tính thanh tịnh của ba Nghiệp. Nhân vì Chú Ngữ ấy có thể dùng chuyển nhượng tất cả hóa làm Không (Śūnya: trống rỗng) chẳng quản hết thảy nghiệp của bạn, toàn bộ mỗi mỗi thông hóa làm Không, chẳng quản nghiệp ác, nghiệp Thiện, nhân duyên gì, thứ gì… của bạn mỗi mỗi thông hóa làm Không (Śūnya: trống rỗng), ngang bằng với sự trọn vẹn rất thanh tịnh đấy! Kỳ thật, trên Thế Giới thì cái gì rất thanh tịnh? Hư Không rất thanh tịnh. Bởi thế bạn hiểu rõ được, đem tất cả hóa làm Không (Śūnya: trống rỗng). Quán Không Chú ấy một lần hiển hiện sinh ra thì tất cả mỗi mỗi thông với Tự Tính thanh tịnh, Tự Tính thanh tịnh, tất cả thanh tịnh nên cái gì cũng mỗi mỗi thông, đều biến thành thanh tịnh trọn vẹn

Cá nhân Ta (Liên Sinh Hoạt Phật) phát hiện một bí mật nhỏ bé ấy cũng là một thứ trong Pháp tu của Hành Giả Mật Giáo. Cần thiết, trước tiên quán Không (Śūnya: trống rỗng), nhân vì quán Không rất trọng yếu, chỉ cần bạn đem Tâm niệm của chính mình dừng lại, trống rỗng (Không: Śūnya) biết rõ tưởng niệm của chính mình, nên ngay tại khoảng một sát na đột ngột chớp nhoáng thì giòng Pháp Ý Thức của vũ trụ tụ hội rưới rót ngay đỉnh đầu, vào trong thân tâm của bạn.

Cá nhân Ta (Liên Sinh Hoạt Phật) đã thể hội dạng làm ấy. Trước tiên, tưởng mình ngồi ngay trên tòa hoa sen tám cánh, rồi trước mặt của mình có một vành trăng của ánh sáng, niệm Quán Không Chú (Tịnh Tam Nghiệp Chân Ngôn):

“Ông, ty ba ngõa, tốc đạt, sa nhĩ ngõa, đạt nhĩ mạ, ty ba ngõa, tốc đóa, hàng”

OṂ_ SVĀBHAVA ŚUDDHA  SARVA  DHARMMA  SVĀBHAVA  ŚUDDHOHAṂ

(Theo người dịch thì Chân Ngôn này là: OṂ_ SVABHĀVA  ŚUDDHA_ SARVA  DHARMA  SVABHĀVA  ŚUDDHOHAṂ)

Tụng Chú năm biến, đem vành trăng càng tưởng càng lớn, lớn đến vô tận, thân của mình và vành trăng trong sạch trợ nhập vào nhau, tất cả đều trống rỗng (Không:Śūnya), nên ngay sau lúc ấy, giòng Pháp ánh sáng, nhập vào trong thân tâm, tràn đầy thân tâm, tức thời tương ứng tám loại cảm giác sinh ra trong thân (bát xúc:cảm giác lay động, cảm giác ngứa, cảm giác nhẹ nhàng, cảm giác nặng nề, cảm giác lạnh, cảm giác ấm áp, cảm giác rít sáp,cảm giác trơn nhẵn)

Bởi thế, Ta (Liên Sinh Hoạt Phật) như đây nói, chỉ cần tu một Đàn Pháp, cũng ngang bằng với giòng Pháp thanh tịnh của vũ trụ, cung cấp cho bạn một thứ Quán Đỉnh. Đấy cũng là bạn cùng với giòng Pháp tương ưng, bạn dung nhập vào trong giòng Pháp, bạn và Phật Bồ Tát sinh ra sự trợ nhau giao lưu, bạn và Phật Bồ Tát có sự giao thông trọn vẹn. Quán Không ấy là một bí mật trọn vẹn bậc nhất của Du Già Mật Giáo.

04/02/2014

 

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 03/02/2014

VĂN THÙ CHÚ

VĂN THÙ CHÚ (.PDF)

Van Thu than chu

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (Maṃjuśrī-bodhisatva) là một vị Đại Bồ Tát. Tên gọi riêng của  Ngài là: Mạn Thù Sư Lợi, Diệu Cát Tường, Diệu Âm, Diệu Đức, Diệu Thủ, Phổ Thủ, Nhu Thủ, Kính Thủ…

Ngài là vị Đại Bồ Tát cùng với Phổ Hiền Bồ Tát (Samanta-bhadra-bodhisatva) là hai vị hầu cận Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Śākya-muṇi). Văn Thù Bồ Tát nắm giữ Trí Tuệ Môn, Phổ Hiền Bồ Tát nắm giữ Lý Trí Môn

Ở trong đời quá khứ, Văn Thù Bồ Tát từng là vị Thầy của bảy Đức Phật, Ngài đã thành Phật. Tôn ấy xưng là Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật (Nāgagotrodara-rāja Buddha).. Mật Hiệu của Ngài là: Cát Tường Kim Cương hoặc Bát Nhã Kim Cương

_Hình tượng của Văn Thù Bồ Tát có đầu đỉnh kết năm búi tóc đại biểu cho sự đầy đủ năm Trí của Đại Nhật Như Lai (Vairocana-tathāgata). Tay phải cầm cây kiếm là biểu thị cho cây kiếm sắc bén của Trí Tuệ. Tòa ngồi là Sư Tử (Siṃha) biểu thị cho sự uy mãnh của Trí Tuệ.

Văn Thù Bồ Tát lại có: Nhất Tự Văn Thù, Ngũ Tự Văn Thù, Lục Tự Văn Thù, Bát Tự Văn Thù, Nhất Kế Văn Thù, Ngũ Kế Văn Thù, Bát Kế Văn Thù, Nhi Văn Thù… Song, dùng Ngũ Tự Văn Thù với Ngũ Kế Văn Thù làm Bản Thể.

Tay trái cả Văn Thù Bồ Tát cầm hoa sen xanh, biểu thị cho nghĩa chẳng nhiễm dính, hay chặt đứt phiền não.

_Văn Thù Bồ Tát ở trong Thai Tạng Giới Mạn Trà La chiếm vị trí Tây Nam của Trung Đài Bát Diệp Viện. Ở trong Văn Thù Viện thì Ngài là Chủ Tôn. Ở bên trong Kim Cương Giới Mạn Trà La thì Ngài là vị thứ nhất ở phương Bắc trong 16 Tôn đời Hiền Kiếp (Bhadra-kalpa)

_Văn Thù Bồ Tát Tâm Chú: “Ông, a lạp ba tra nạp, để”

OṂ_ A RA PA CA NA_ DHĪḤ

Nghĩa sâu xa trong ấy như bài Kệ là:

“Ưa muốn Bồ Đề chẳng bỏ chúng sinh

Vào sâu trong Đệ Nhất Nghĩa Đế, hành

Tu tập các Pháp không có Tự Tính

Nếu tu như vậy, mãn tất cả Nguyện”

_Kim Cương Đỉnh Kinh Ngũ Tự Chân Ngôn Thắng Tướng nói rằng: “Nếu có thể một lòng ở một mình nơi chốn nhàn tĩnh, dùng chữ Phạn vẽ Ngũ Tự Luân Đàn (Luân Đàn có 5 chữ) rồi y theo Pháp niệm tụng đủ một tháng thì Mạn Thù Bồ Tát (Maṃjuśrī-bodhisatva) liền hiện thân, hoặc ở trong hư không diễn nói Pháp Yếu. Lúc đó Hành Giả được Túc Mệnh Trí, biện tài vô ngại, Thần Thông tự tại, mau chóng đốn chứng Pháp Thân Như Lai. Nếu có Tâm tin nhận thì trải qua 16 kiếp quyết định thành Chính Giác”.

_Nếu có người một lòng trì Văn Thù Bồ Tát Tâm Chú vô lượng vô số biến thì có thể xa lìa các khổ não, mở Trí Tuệ, tất cả tội chướng của nhóm năm Vô Gián đều được hết sạch không có dư sót, chứng ngộ tất cả các Tam Muội Môn, được Đại Văn Trì, thành A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Anuttarā-samyaksaṃbuddhi: Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác)

04/02/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 03/02/2014

CAM LỘ THỦY CHÂN NGÔN

CAM LỘ THỦY CHÂN NGÔN (.PDF)

Cam Lo Thuy Chan Ngon

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH 

Cam Lộ (Amṛta) là một loại ví dụ cho Giáo Pháp của Như Lai. Trong Kinh Pháp Hoa, Phẩm Dược Thảo Dụ nói là: “Ta là Thế Tôn không có ai theo kịp, an ổn chúng sinh, cho nên hiện ở đời, vì Đại Chúng nói Cam Lộ Tịnh Pháp. Pháp ấy có một vị là Niết Bàn giải thoát”

Pháp ấy là con đường của Đại Giác, tịch diệt không có tướng, tư vị rất tốt đẹp, ví dụ như Cam Lộ.

_Ai là Cam Lộ Vương (Amṛta-rāja) nhỉ? Khởi đầu Cam Lộ Vương là chỉ Đức Phật A Di Đà, Chú của Đức Phật A Di Đà được nói là Cam Lộ Chú, Đức Phật A Di Đà Phật Cam Lộ Vương Như Lai  (Amṛta-rāja-tathāgata). Nhân vì Đức Phật A Di Đà hóa thân nói Pháp tưới mưa Cam Lộ. do đây mà xưng Đức ấy vậy.

_Chúng ta tu Mật Pháp đều biết noi theo Quân Trà Lợi Minh Vương (Kuṇḍali-vidya-rāja) có ba loại:

1_Kim Cương Quân Trà Lợi Minh Vương (Vajra-kuṇḍali-vidya-rāja)

2_Liên Hoa Quân Trà Lợi Minh Vương (Padma-kuṇḍali-vidya-rāja)

3_Cam Lộ Quân Trà Lợi Minh Vương (Amṛta-kuṇḍali-vidya-rāja)

Phật sống Liên Sinh trong Chân Phật Tông từng thường truyền thụ Cam Lộ Quân Trà Lợi Minh Vương Cúng Dường Niệm Tụng Thành Tựu Nghi Quỹ. Lại truyền thụ Thập Cam Lộ Chú, Cam Lộ Thủy Chân Ngôn rất cơ bản là:

“Nam mô tô lỗ bà gia, đát tha nga đa gia. Đát điệt tha: Ông, tô lỗ tô lỗ, bát la tô lỗ, bát la tô lỗ, thoa cáp”

NAMAḤ  SURU-VYA  TATHĀGATĀYA_ TADYATHĀ: OṂ  SURU  SURU  PRASURU  PRASURU  SVĀHĀ

(Theo người dịch thì Chân Ngôn này là: NAMAḤ  SURŪPAYA  TATHĀGATĀYA_ TADYATHĀ: OṂ  SDURU  SRURU  PRASURU  PRASURU  SVĀHĀ)

Chân Ngôn ấy gia trì vào nước khiến cho nước trong sạch lặng yên, vòng khắp Pháp Hội khiến cho các hàng Quỷ đói, tự mở cổ họng, shúng sinh trong Pháp Giới một thời đều được thức ăn uống Cam Lộ.

Chúng ta tưởng niệm rõ rệt nước Cam Lộ ấy:

“Nguyện đều no đủ, bỏ keo tham

Mau thoát U Minh, sinh Tịnh Thổ

Quy y Tam Bảo, phát Bồ Đề

Rốt ráo được thành Đạo vô thượng

Công Đức vô biên tận vị lai

Tất cả Phật Tử đồng Pháp Thực

_Pháp Môn ấy là:

“Phổ Trí Thiên Nhân Tôn

Thương xót loài Quần Manh (Bahu-jana: quần sinh, tên gọi khác của chúng sinh)

Hay mở cửa Cam Lộ

Rộng độ cho tất cả”

01/02/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 03/02/2014

THAI TẠNG GIỚI ĐẠI NHẬT NHƯ LAI CHÂN NGÔN

THAI TẠNG GIỚI ĐẠI NHẬT NHƯ LAI CHÂN NGÔN (.PDF)

THAI TẠNG GIỚI ĐẠI NHẬT NHƯ LAI CHÂN NGÔN

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Mạn Trà La (Maṇḍala) của Mật Giáo là Tài Hữu của Mật Giáo, ý nghĩa của nó là huy hoàng phi thường.

Đại Nhật Kinh Sớ nói rằng: “Môn Đại Bi Vạn Hạnh Ba La Mật nhiều như số bụi nhỏ trong mười phương Thế Giới giống như Hoa Tạng, vô lượng Ứng Thân trong ba Thừa, sáu đường giống như gốc rễ, cọng, cành, lá phát huy xen kẽ lẫn nhau. Dùng mọi Đức như vậy xoay tròn chuẫn bị vòng khắp, cho nên gọi là mạn Trà La (Maṇḍala)”

Mạn Trà La gọi là tụ tập. Nay dùng Công Đức chân thật của Như Lai gom tập tại một chỗ, cho đến Trí Ấn (Jñāna-mudra) sai biệt nhiều như số bụi nhỏ trong mười phương Thế Giới xoay tròn tụ tập, trợ giúp Tâm Vương của Đại Nhật khiến cho Phổ Môn (Samanta-mukha) của tất cả chúng sinh tiến thú, thế nên nói là Mạn Trà La vậy.

Phật, Bồ Tát, chúng Thánh vốn ở tại hư không, không có hình, chỉ vì độ hóa khắp chúng sinh nên dùng Pháp phương tiện bí mật, hiển hiện: nhóm tướng: trục xe, căm xe, vành xe, bánh xe thành làm nơi tập hội của Thánh Hiền, nơi mà vạn Đức giao quy. Điều ấy cũng là Mạn Trà La của Mật Giáo.

_Mật Giáo y theo Kinh Đại Nhật, Kinh Kim Cương dụng lập Kim Cương Giới Man Trà La (Vajra-dhātu-maṇḍala) biểu thị cho nghĩa Kim Cương bất hoại, Thai Tạng Giới Man Trà La (Garbha-dhātu-maṇḍala) biểu thị cho nghĩa bào thai chứa đựng đứa con. Dùng minh họa cho sự rộng lớn của Lý Thể hay nhiếp vạn Đức giống như bào thai cất chứa (thai tạng).

Kim Cương Giới là Trí, là Quả. Thai Tạng Giới là Lý, là Nhân.

 

_Thai Tạng Giới Đại Nhật Như Lai Chân Ngôn là: “A, vĩ, la, hồng, khiếm”

A  VI  RAṂ  HŪṂ  KHAṂ

(Theo người dịch thì Chân Ngôn này là: OṂ  A  VIRA  HŪṂ  KHAṂ)

Năm chữ ấy là ý nghĩa của đất, nước, lửa, gió, hư không

_Đại Nhật Như Lai (Vairocana-tathāgata) của Thai Tạng Giới dùng đất, nước, lửa, gió, hư không là năm Đại Nguyên Tố của vũ trụ làm một Chân Ngôn. Đấy tượng trưng cho sự tổng hợp hết Thế Giới vật chất của vũ trụ.

Đất, nước, lửa, gió, hư không cũng là vũ trụ. Vũ trụ cũng là Đại Nhật Như Lai, ấy là nghĩa hàm chứa rất sâu rất sâu vậy.

_Hành Giả Mật Giáo biết rõ ràng Đại Nhật Như Lai Giáo Chủ ngang bằng với Chân Lý của vũ trụ: không có sinh, không có diệt, không có tăng thêm, không có giảm bớt, không có dơ, không có sạch… là Tổng Thể Tổng Đức của tất cả vũ trụ. Bởi thế Thai Tạng Giới Đại Nhật Như Lai Chân Ngôn dùng năm Đại Nguyên Tố của vũ trụ làm Chân Ngôn. Đấy như sự hô ứng của tướng này, không có một, không có hai

Thai Tạng Giới dùng chữ A (唒) làm chủng tử (Bīja) là nghĩa nhiếp thụ tất cả, hay có sự diễn hóa không có cùng tận. A ấy cũng là nguyên thủy, tu Thai Tạng Giới cũng là hồi phục nguyên thủy

30/01/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 02/02/2014

KIM CƯƠNG GIỚI ĐẠI NHẬT NHƯ LAI CHÂN NGÔN

KIM CƯƠNG GIỚI ĐẠI NHẬT NHƯ LAI CHÂN NGÔN (.PDF)

Kim Cuong Gioi Dai Nhat Chan Ngon

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Ánh sáng của Tỳ Lô Giá Na Phật (Vairocana-buddha) đối với bên trong thì chiếu phá Chân Như Pháp Giới, đối với bên ngoài thì chiếu phá tất cả chúng sinh mà không có chướng ngại. Sự viên mãn của mọi Đức ấy là Pháp Tính (Dharmatā) vĩnh viễn chẳng biến đổi, có thể nói gom tập đủ Pháp Tính của tất cả các Tôn, hơn nữa lại tràn đầy tất cả nơi chốn. Nhân đây đem Tôn này làm Chủ Tôn của Mật Tông, lại xưng là Đại Nhật Như Lai 

_Kim Cương Giới Đại Nhật Như Lai Man Trà La có vị trí ở trong Điện Bất Hoại Kim Cương Quang Minh Tâm tại cung Ma Ê Thủ La (Maheśvara: Đại Tự Tại) thuộc Sắc Giới (Rūpa-dhātu), năm Tướng viên mãn khởi đầu thành tướng của Chính Giác. Ngài có Tướng tương tự Bồ Tát, làm dạng người Trời (Thiên nhân), đầu rũ búi tóc đội mão báu năm Trí, tay kết Trí Quyền Ấn, thân có màu trắng xanh, dùng chữ Hám (VAṂ) làm chủng tử, dùng Ngũ Cổ (chày Kim Cương có năm chấu) làm Tam Muội Gia Hình, Mật Hiệu là Biến Chiếu Kim Cương. 

_Ma Ha Tỳ Lô Giá Na Như Lai có ba nghĩa của Quang Minh Biến Chiếu (ánh sáng chiếu soi khắp) là: Đại (to lớn), Đa (nhiều), Thắng (hơn, được, giỏi). Na nghĩa ấy không có Pháp dùng sự tượng trưng của vật chất để đại biểu. Nhân đây chỉ có dùng Đại Nhật để biểu trưng.

 Kinh Đại Nhật nói rằng: “Tỳ Lô Giá Na (Vairocana) là tên gọi riêng của mặt trời tức có  nghĩa là Trừ Ám Biến Minh (trừ ám tối chiếu sáng khắp). Xong Mặt trời nếu chiếu bên ngoài thì chẳng thể soi đến bên trong, sáng ở bên này thì chẳng sáng được bên kia. Lại chỉ tỏa sáng ban ngày mà chẳng thể làm ngọn đuốc soi sáng trong đêm.

Ánh sáng thuộc mặt trời Trí Tuệ (Jnàna-divàkara) của Như Lai ắt chẳng như thế, tràn khắp tất cả nơi chốn làm ánh sáng soi chiếu rộng lớn (Đại Chiếu Minh) không có sự riêng biệt của bên trong bên ngoài, phương sở, ngày đêm… Mặt trời của Thế Gian chẳng thể làm ví dụ mà chỉ chọn lấy chút phần tương tự, cho nên dùng thêm chữ Đại và gọi là Ma Ha Tỳ Lô Giá Na (Mahā-vairocana)” 

_Kim Cương Giới Đại Nhật Như Lai Chân Ngôn: “Ông, oa nhật la, đả đô, hám”

OṂ_ VAJRA-DHĀTU  VAṂ

Ý nghĩa của Chân Ngôn ấy là: “Quy mệnh sự chẳng thể nghĩ bàn của Kim Cương Giới” 

_Chữ chủng tử Hám (圳:VAṂ) bao hàm đủ: Sâu chẳng thể đo lường, rộng chẳng thể đo lường, không có bờ mé (vô biên) chẳng thể đo lường, không có cùng tận (vô tận) chẳng thể đo lường, khó nghĩ bàn của sự chẳng thể nghĩ bàn.

Chữ Hám (圳:VAṂ) ấy là Chân Lý của vũ trụ. Chân Lý của vũ trụ: nguyên bản cũng là sâu rộng không có bờ mé không có cùng tận, không có Pháp để miêu tả tô vẽ hiện ra… 

30/01/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 27/01/2014

MÃ ĐẦU MINH VƯƠNG MAN ĐA LA

MÃ ĐẦU MINH VƯƠNG MAN ĐA LA (.PDF)

Hayagriva

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí

Phục hồi Phạn Chú và Việt dịch: HUYỀN THANH 

Mã Đầu Minh Vương (Hayagrīva-vidya-rāja) tức là Mã Đầu Quán Thế Âm, ở trong Giáo Lệnh Luân của Liên Hoa Bộ (Padma-kulāya) là một trong sáu vị Quán Âm. Tại Minh Vương Bộ (Vidya-rāja-kulāya) là Mã Đầu Minh Vương. Do ở trên đầu của Ngài có hình con ngựa trắng như con ngựa báu của Chuyển Luân Thánh Vương cho nên xưng là Mã Đầu Minh Vương, Mã Đầu Quán Ấm, lại được tôn xưng là Giáo Chủ của đường Súc Sinh. Mã Đầu Minh Vương lại có tên gọi là Đạm Thực Kim Cương.

Tu trì Mã Đầu Minh Vương giống như sức bàn chân của con ngựa báu, chẳng kể xa gần thì Pháp Lực đều có thể đạt đến, có thể đi khắp bốn Đại Châu. Uy lực ấy rất lớn, giáng  phục tất cả Ma Chướng, lại đầy đủ uy lực.

Pháp của Mã Đầu Minh Vương được trích ra từ nhóm Kinh: Tần Già Tạng Bí Mật Bộ, Hồng Quán Âm Nghi Quỹ, Kim Cương Bố Úy Khởi Phân

_Hình tướng của Mã Đầu Minh Vương: thân màu hồng, ba mắt, trợn mắt tròn xoe, lộ răng nanh bén nhọn ra bên ngoài, râu tóc đều có màu vàng hồng dựng đứng, trên đầu có cái đầu ngựa màu xanh lục, tay phải cầm cây gậy báu đầu người, tay trái cầm sợi dây móc câu, đầu đội mão năm đầu lâu, cổ đeo 50 cái đầu người, thân khoác: da người, da voi, da cọp… dùng rắn quấn để trang nghiêm. Hai chân: co bên phải, duỗi bên trái dẫm đạp Ma nan, Ma nữ. Dùng hoa sen làm tòa, đứng uy nghi ở trong lửa Bát Nhã mạnh mẽ nóng bức

Công Đức chủ yếu của Mã Đầu Minh Vương có hai thứ:

1_Hóa độ đường Súc Sinh

2_Miễn trừ tất cả Chú ác, Pháp tà

Tại Mật Giáo thì Mã Đầu Minh Vương có Chân Ngôn ăn nuốt tất cả vật độc. Trong Thế Gian: cọp, sói, rắn, bò cạp cắn hại chúng sinh hữu tình cho đến chất độc của Rồng độc…giả sử tất cả thú ác, vật độc đến trước mặt mổ cắn mà tất cả chúng Thần chẳng thể cứu giúp thì chỉ có cầu xin Mã Đầu Minh Vương mau đến, kèm tụng Chân Ngôn liền có thể cứu độ. Chân Ngôn như bên dưới

Mã Đầu Minh Vương Chân Ngôn:

Doãn hy hy, ma cáp phộc nhật lạp na khế, phộc nhật lạp mục khế, cáp na cáp na, nhẫn na nhẫn na, bản tả bản tả, nam ngã nam ngã, nặc na ba nặc na ba, a vĩ xả a vĩ xả, hát gia đốt lợi vũ nghê gia, bản gia để, thoa cáp”

EHYEHI   MAHĀ-VAJRA-NAKHA  VAJRA-MUKHE,  HANA  HANA, DAHA  DAHA, PACA  PACA, DAGDHA  DAGDHA, DAṆḌA-BHĀJ  DAṆḌA-BHĀJ, ĀVIŚA  ĀVIŚA, HAYAGRĪVA  JÑEYA-PARYANTI  SVĀHĀ

_Chân Ngôn đoản Chú:

“Ông, ta, bối mã đạt cát, cáp gia cát ngõa, ta, hồng phôi”

OṂ_ HRĪḤ  PADMA  ṬAKKI  HAYAGRĪVA  HRĪḤ  HŪṂ  PHAṬ

_Mã Đầu Minh Vương có Pháp Phá Độc. Trong Thế Gian: cọp, sói, rắn, bò cạp… tất cả động vật linh gây hại hữu tình, thậm chí Ca Xoa Độc Long có chất độc hại không gì so sánh được, nếu bị bám vào thân hoặc bị cắn mà tất cả Chân Ngôn chẳng thể cứu giúp thời chỉ tụng Mã Đầu Minh Vương Chân Ngôn gia trì vào sợi dây màu trắng 108 biến, mỗi 108 biến làm một gút kết, tổng cộng làm 21 gút kết, sau đó kết ở trên cánh tay bàn tay trái thì loài độc đại ác ấy đều bị phá hoại, tất cả được trở lại như cũ.

27/01/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 27/01/2014

MÃ ĐẦU MINH VƯƠNG TÂM CHÚ

MÃ ĐẦU MINH VƯƠNG TÂM CHÚ (.PDF)

Ma Dau Minh Vuong

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

_Mã Đầu Minh Vương (Hayagrīva-vidya-rāja) có thân màu hồng, ba mắt, trợn mắt tròn xoe, lộ răng nanh bén nhọn ra bên ngoài, râu tóc đều có màu vàng hồng dựng đứng, trên đầu có cái đầu ngựa màu xanh lục, tay phải cầm cây gậy báu đầu người, tay trái cầm sợi dây móc câu, đầu đội mão năm đầu lâu, cổ đeo 50 cái đầu người, thân khoác: da người, da voi, da cọp… dùng rắn quấn để trang nghiêm. Hai chân: co bên phải, duỗi bên trái dẫm đạp Ma nam, Ma nữ. Dùng hoa sen làm tòa, đứng uy nghi ở trong lửa Bát Nhã mạnh mẽ nóng bức

Công Đức chủ yếu của Mã Đầu Minh Vương có hai thứ:

1_Hóa độ đường Súc Sinh

2_Miễn trừ tất cả Chú ác, Pháp tà

_Mã Đầu Minh Vương lại có tên gọi là Đạm Thực Kim Cương. Tại Mật Giáo thì Mã Đầu Minh Vương có Chân Ngôn ăn nuốt tất cả vật độc. Trong Thế Gian: cọp, sói, rắn, bò cạp cắn hại chúng sinh hữu tình cho đến chất độc của Rồng độc…giả sử tất cả thú ác, vật độc đến trước mặt mổ cắn mà tất cả chúng Thần chẳng thể cứu giúp thì chỉ có cầu xin Mã Đầu Minh Vương mau đến, kèm tụng Chân Ngôn liền có thể cứu độ. Chân Ngôn như bên dưới:

“Ông, xả, bối mã đạt cát, cáp gia cát ngõa, xả, hồng phôi”

OṂ_ HRĪḤ  PADHMA TAKI  HAYAGRĪVA  HRĪḤ  HŪṂ  PHAṬ

(Theo người dịch thì Chân Ngôn này là: OṂ_ HRĪḤ  PADMA  ṬAKKI  HAYAGRĪVA  HRĪḤ  HŪṂ  PHAṬ) 

_Mã Đầu Minh Vương có Pháp Phá Độc. Trong Thế Gian: cop, sói, rắn, bò cạp… tất cả động vật linh gây hại hữu tình, thậm chí Ca Xoa Độc Long có chất độc hại không gì so sánh được, nếu bị bám vào thân hoặc bị cắn mà tất cả Chân Ngôn chẳng thể cứu giúp thời chỉ tụng Mã Đầu Minh Vương Chân Ngôn gia trì vào sợi dây màu trắng 108 biến, mỗi 108 biến làm một gút kết, tổng tộng làm 21 gút kết, sau đó kết ở trên cánh tay bàn tay trái thì loài độc đại ác ấy đều bị phá hoại, tất cả được trở lại như cũ.

Phương pháp Tu Pháp chày Kim Cương của Mã Đầu Minh Vương là dùng một cái chén chứa đầy gạo, cầm cái chày cắm ở mặt trên của đống gạo. Bạn đắp một cái Đàn hoa ở chu vi chỗ ấy, bạn đối diện trước chày Kim Cương, trì Mã Đầu Minh Vương Chú, trì 10 vạn biến, sau đó bạn lấy chày Kim Cương xuống, dùng sợi dây buộc bên eo lưng của bạn thì hết thảy Giáng Đầu, Vu Thuật không có biện pháp nào đến gần thân của bạn được.

Nhân vì chày Kim Cương ấy gia trì đủ 10 vạn biến xong, ở Đàn hoa, khoảng giữa đống hoa, bạn đối trước Mã Đầu Minh Vương niệm 10 vạn biến Kim Cương Tâm Chú ắt cũng hay thủ hộ đủ cho bạn. Hết thảy Vu Thuật, Giáng Đầu, tai nạn chẳng tụ hội, giáng xuống trên thân của bạn được.

27/01/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 27/01/2014

KIM CƯƠNG THỦ BỒ TÁT CHÂN NGÔN

KIM CƯƠNG THỦ BỒ TÁT CHÂN NGÔN (.PDF)

Kim Cuong Thu

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Kim Cương Thủ Bồ Tát Chấp Kim Cương Bí Mật Chủ của Mật Giáo. Kinh Điển Mật Giáo ghi chép Ngài là Kim Cương Thủ Bồ Tát (Vajra-pāṇi-bodhisatva), là Tỳ Lô Giá Na Phật (Vairocana-buddha) ở trong Đại Mạn Trà La của Kim Cương Giới (Vajra-dhātu) tiến vào Phổ Hiền Tam Muội Đại Định Tam Ma Địa xong, đã hóa sinh, hiện ra ánh sáng mặt trăng của một ngôi Đại Luân, ánh sáng mặt trăng tức là Bồ Đề Tâm Ấn của sự viên mãn. Ngay trong ánh sáng của vành trăng lớn hiện ra cái chày Kim Cương của ánh sáng. Do ở dạng Thần Biến ấy, nên Kim Cương Thủ Bồ Tát tức là Hợp Thể của Phổ Hiền Bồ Tát (Samanta-bhadra-bodhisatva) với Kim Cương Tát Đóa (Vajra-satva)

Kim Cương Thủ Bồ Tát của ngôi vị ấy chắc chắn là Pháp Vương Tử thứ nhất của tất cả Như Lai, là Tâm Bồ Đề của tất cả Như Lai, cũng là Tăng Thượng Chủ Tể của tất cả Như Lai, chính là Chấp Kim Cương Bí Mật Chủ.

Pháp Tướng của Ngài là: Tay phải cầm chày Kim Cương như dạng múa ném chày Kim Cương, tay trái để ở háng cầm nắm Kim Cương Quyền hoặc cái chuông, tay phải là tay ném chày Kim Cương phóng ở khoảng tim ngực.

Kim Cương Thủ Bồ Tát là Tâm Bồ Đề của tất cả chư Phật. Đại Thế Chí Bồ Tát (Mahā-sthāmaprāpta-bodhisatva) tức là Trí Tâm.

_Kim Cương Thủ Bồ Tát là Tâm Bí Mật của tất cả Mật Tông Hành Giả, bởi thế Kim Cương Thủ Bồ Tát tức là Kim Cương Tâm Bồ Tát, Tâm tương ứng của tất cả chư Phật Bồ Tát với chúng sinh. Do đó Thượng Sư của Mật Giáo dùng Tâm của Kim Cương Thủ Bồ Tát làm Tâm, dùng hình của Kim Cương Thủ Bồ Tát làm hình, để mà truyền dương Pháp của Mật Giáo. Ấy cũng là Pháp Tướng của Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Mật Hạnh Tôn Giả, hiển rõ ý nghĩa chân thật của Chấp Kim Cương Bí Mật Chủ

Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Mật Hạnh Tôn Giả truyền Kim Cương Thủ Bồ Tát Chân Ngôn Pháp như bên dưới:

1_ Kết Kim Cương Thủ Ấn Tướng

2_Quán tưởng chung quanh thân của Kim Cương Thủ Bồ Tát có ánh sáng màu trắng

3_Ánh sáng trắng ở con mắt thứ ba bắn vào con mắt thứ ba của Hành Giả

4_Trì Chú: “Ông, bà nhật la, tát đát bà, ách”

OṂ_ VAJRA-SATVA  AḤ

Chú này trì 108 biến hoặc 1080 biến

Một loại tu Pháp: y theo Nghi Quỹ tu trì của tất cả Mật Pháp, có đủ ba yếu tố lớn “Chú, Ấn, Quán Tưởng”, lại vào Đại Mạn Trà La, có thể nhập vào Phổ Hiền Tam Ma Địa, lại dần vào Kim Cương Tát Đóa Tam Ma Địa, hay có đủ sức gia trì của Phật. Lúc này có thể chứng được vô lượng Đà La Ni Môn của vô lượng Tam Muội Gia. Do Pháp Lực chẳng thể nghĩ bàn này, liền có thể hiện thành Kim Cương Thủ Bồ Tát

Pháp này là hạt giống Kim Cương trong A Lại Gia Thức (Ālaya-vijñāna) biến hiện. Mật Tông Hành Giả được dòng Pháp của năm Trí (Ngũ Trí Pháp lưu) này cũng là sự biểu thị toàn vẹn hiển rõ Kim Cương Thủ Bồ Tát

26/01/2014

Đăng bởi: TPK | 26/01/2014

TAM MUỘI GIA GIỚI CHÂN NGÔN

TAM MUỘI GIA GIỚI CHÂN NGÔN (.PDF)

image001

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH 

Tam Muội Gia Giới là Phật Giới bình đẳng vậy. Bồ Đề vô thượng (Agra-bodhi) dùng Giới (Śīla) làm nền tảng.

Hành Giả nên tự Tịnh Ý, lặng yên an trụ, liền tụng Tam Muội Gia Giới Chân Ngôn: “Ông, tam ma nha ty đô, phàm mẫu”

OṂ_ SAMAYA  SATAVAṂ

(Theo người dịch thì Chân Ngôn này là: OṂ  SAMAYA  STVAṂ)

_Thiền Yếu nói rằng: “Đà La Ni này khiến tụng ba biến liền đồng với nghe Giới, cũng hay đầy đủ tất cả Luật Nghi thanh tịnh của Bồ Tát. Các Công Đức lớn chẳng thể nói đủ”

_Thí Ngạ Quỷ Kinh nói rằng: “Tụng Chú ba biến xong, tất cả Quỷ Thần liền nghe Bí Pháp sâu xa, hết thảy được đầy đủ Tam Muội Gia Giới

_Duyên Khởi Kinh nói rằng: “Khi tụng Chú thời nên quán tưởng chữ màu trắng (tức trên vành trăng ở trái tim có một chữ Phạm Mẫu theo Phạn Văn (VAṂ) màu trắng) phóng ánh sáng lớn, chiếu khắp hữu tình. Ánh sáng chiếu vào thân ấy tức Giới Ba La Mật của tất cả chư Phật ba đời một thời viên mãn, là Chân Phật Tử”.

Khi tụng thời quán tưởng tất cả chúng sinh đồng thọ nhận Kim Cương Quang Minh Tam Muội Bảo Giới, tâm được thanh tinh, thân như Bồ Tát.

_Đại Lạc Kim Cương Tam Muội Kinh nói rằng: “Tam Muội gọi là bản Thể, cũng gọi là Thời, cũng gọi là Kỳ Khế, cũng gọi là Mạn Trà La. Lai có tên gọi khác, cho nên có bốn loại Mạn Trà La:

1_ Đại

2_Tam Muội Gia

3_Pháp

4_Yết Ma

Bốn điều này nhiếp chung tất cả Mạn Trà La.

Lại Tam Muội Gia cũng là bốn Trí Ấn, tức: Đại Trí Ấn, Tam Muội Gia Trí Ấn, Pháp Trí Ấn, Yết Ma Trí Ấn

_Thần Biến Nghĩa giải thích là: “Tam Muội Gia (Samaya) là nghĩa bình đẳng, là nghĩa Bản Thệ, là nghĩa trừ chướng, là nghĩa cảnh giác. Nói bình đẳng là khi Đức Như Lai hiện Tam Muội này thời mọi loại thân miệng ý của tất cả chúng sinh thảy đều cùng với Như Lai ngang bằng. Thiền Định, Trí Tuệ với thân thật tướng cũng rốt ráo ngang bằng. Khi mới phát tâm với khi mãn Địa Ba La Mật thời cũng rốt ráo ngang bằng. Thế nên phát ra lời thành thật bảo chúng sinh rằng: “Như lời mà Ta đã nói quyết định chẳng hư giả” cũng khiến cho tất cả chúng sinh khi phát ra lởi sem xét kỹ lưỡng này thời cũng nhận được ba Mật gia trì, vô tận trang nghiêm cùng với Như Lai ngang bằng. Do Nhân Duyên này mà hay làm sự nghiệp Kim Cương, cho nên gọi là Tam Muội Gia vậy”

_Kim Cương Đỉnh Kinh nói rằng: “Nếu tụng Chú này một biến thì như vào Đàn Luân chứng Tam Ma Đề. Tất cả Thiện Pháp thảy đều đầy đủ, ba Tụ Tịnh Giới cùng thời viên mãn, thân đồng với Phổ Hiền ngồi ở vành trăng lớn, tất cả chư Phật nhớ lại Bản Thệ xưa kia mà quán sát hộ giúp”

26/01/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 25/01/2014

PHÁT BỒ ĐỀ TÂM CHÂN NGÔN

PHÁT BỒ ĐỀ TÂM CHÂN NGÔN (.PDF)

Bo De Tam

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

 

Phát Bồ Đề Tâm Chân Ngôn là Chân Ngôn thanh tịnh của tất cả Bồ Tát mới phát Tâm.

Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán Kinh ghi chép là: “Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Tâm không có hình tướng, cũng không có chỗ trụ. Hành Giả phàm phu mới bắt đầu phát Tâm thì y theo nơi chốn nào? Quán nhóm tướng nào?”

Đức Phật nói: “Này Thiện Nam Tử! Nơi mà Phàm Phu quán tướng của Tâm Bồ Đề (Bodhi-citta) giống như vành trăng tròn đầy trong sạch ở trên ức ngực, sáng suốt mà trụ.

Nếu người muốn mau được Bất Thoái Chuyển, tại A Lan Nhã (Araṇya) với cái thất rỗng lặng, ngay thẳng thân, Chính Niệm, kết Như Lai Kim Cương Phộc Ấn, mắt sáng tỏ quán sát trăng sáng trong ức ngực, tác suy nghĩ này: “Vành trăng tròn đầy này rộng 50 Do Tuần không có dơ bẩn, sáng trong, bên trong bên ngoài lặng trong, rất ư trong mát. Mặt trăng tức là Tâm, Tâm tức là mặt trăng, không nhiễm bụi bặm, chẳng sinh vọng tưởng, hay khiến cho thân tâm của chúng sinh được thanh tịnh, Tâm Đại Bồ Đề bền chắc chẳng thoái lùi”. Kết Thủ Ấn này, trì niệm quán sát chương cú vi diệu của Tâm Đại Bồ Đề”

_Phát Bồ Đề Tâm Chân Ngôn:

Ông, ba địa chi đả, biệc tạc, sa ma gia, a hồng”

OṂ_ BODHI-CIḌĀ  VAJRA-SAMAYA- A HŪṂ

(Theo người dịch thì Chân Ngôn này là: OṂ_ BODHI-CITTA  VAJRA-SAMAYA  ĀḤ  HŪṂ)

Chân Ngôn này có đủ sức Đại Uy Đức, hay khiến cho người trì Chú thanh tịnh thân tâm, lâu dài trì giữ thì được bất thoái chuyển. Tất cả Bồ Tát quá khứ hiện tại vị lai tại Nhân Địa, khi mới phát Tâm thời đều trì Chú này, nhập vào Bất Thoái Địa, mau viên mãn Chính Giác

_Trí Độ Luận nói rằng: “Bồ Đề gọi là con đường của chư Phật”

_ Duy Thức Thuật Ký nói là: “Tiếng Phạn nói Bồ Đề (Bodhi), nay phiên dịch là Giác, giác ngộ Pháp Tính (Dharmatā) vậy”

_Ngay trong Chân Phật Mật Pháp: Thánh Tôn Liên Sinh dạy bảo Đại Gia phát ba loại Tâm Bồ Đề. Đây là Tâm Bồ Tát của Chân Ngôn Hành Giả

1_ Hạnh Nguyện Bồ Đề Tâm: Tu hành phát Nguyện cho nên gọi là Hạnh Nguyện. Ấy cũng là:

Thề nguyện cứu độ vô biên chúng sinh

Thề nguyện chặt đứt vô biên phiền não

Thề nguyện biết Pháp Môn vô tận

Thề nguyện chứng Vô Thượng Bồ Đề (Agra-bodhi)

2_ Thắng Nghĩa Bồ Đề Tâm: Ấy là ngưng dứt Pháp thấp kém, quán hiển Thắng Nghĩa, cuối cùng an trụ nơi Tâm trang nghiêm bí mật rốt ráo. Ấy là nghĩa thù thắng của Giáo Môn Chân Phật Mật Pháp

3_ Tam Ma Địa Bồ Đề Tâm: Ấy là Chân Phật Hành Giả được đến Đại Định. Hành Giả nhập vào Tín Giải Địa, thật tu ba Mật tương ứng, Đẳng Trì (Samādhi) vạn Đức tự hành hóa tha của chư Phật, vào khắp Hữu Tình Giới, bình đẳng nhiếp thọ mà hộ niệm.

_Hạnh Nguyện Tâm Bồ Đề là Đại Bi

Thắng Nghĩa Tâm Bồ Đề là Đại Trí

Tam Ma Địa Tâm Bồ Đề là Đại Định 

25/01/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 24/01/2014

BÁT NHÃ PHẬT MẪU TÂM CHÚ

BÁT NHÃ PHẬT MẪU TÂM CHÚ (.PDF)

Bat Nha Phat Mau Tam Chu

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Bát Nhã Phật Mẫu được giới thiệu trong Đại Bát Nhã Ba La Mật Kinh cùng với Bát Nhã Tâm Kinh. Do tất cả các Như Lai ba đời đều y theo Bát Nhã Diệu Trí ngộ Đạo, chứng Giác cho nên xưng điều ấy là Năng Xuất Tam Thế Chư Phật Đại Phật Mẫu.

_Đại Trí Độ Luận nói rằng: “Bát Nhã Ba La Mật là mẹ của chư Phật. Trong cha mẹ thì công của mẹ rất nặng, thế nên Phật dùng Bát Nhã làm mẹ”.

_Đại Phẩm Bát Nhã Tát Đà Ba Luân Phẩm nói là: “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật là mẹ của các Bồ Tát Ma Ha Tát, hay sinh chư Phật, nhiếp trì Bồ Tát”.

Bát Nhã Phật Mẫu là một Tôn rất lớn, đích thực là mẹ của Phật. Hết thảy Phật hiển lộ đạt đến cực điểm là từ nơi mà Bát Nhã Phật Mẫu đã sinh ra. Nhân vì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi ở trong đời, nói Kinh Đại Bát Nhã. Phần rút gọn của Kinh Đại Bát Nhã là Kinh Kim Cương. Kinh Kim Cương lại rút gọn thành Tâm Kinh. Bởi thế Kinh Đại Bát Nhã, Kinh Kim Cương, Tâm Kinh… thật ra là sự trình bày của một hệ. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hai lần chuyển bánh xe Pháp đều là Pháp Môn Bát Nhã.

Hết thảy chư Phật đều là do hai lần chuyển bánh xe Pháp, là nơi mà Pháp Môn Bát Nhã đã sinh ra. Bởi thế Pháp Môn Bát Nhã là Phật Mẫu tối cao, cũng gọi là Bát Nhã Phật Mẫu. Điều ấy cũng là Phật Mẫu sinh ra tất cả chư Phật. Do đó Pháp Lực của Ngài là to lớn phi thường, ban cho Trí Tuệ vô cùng vô tận. 

_Bát Nhã Phật Mẫu có thân màu vàng ròng, một mặt bốn cánh tay, đầu đội mão báu, thân trang nghiêm bằng mọi báu Anh Lạc, áo Trời, quần lụa màu, tướng của Báo Thân tốt đẹp trang nghiêm, dùng Kim Cương Song Già Phu ngồi ở hoa sen trên vành trăng.

Hóa Tướng của Bát Nhã Phật Mẫu là một mặt bốn cánh tay, thân tướng màu vàng, hai tay ở chỉnh giữa tác Định Ấn để ở rốn. tay phải còn lại cầm một chày Kim Cương nâng cao lên, tay trái còn lại nâng một bộ Kinh Bát Nhã. Thân mặc áo lụa màu hoa lệ, đeo mọi thứ báu trang sức, đầy đủ năm loại trang nghiêm của Báo Thân, ngồi Kiết Già ở hoa sen với trên tòa mặt trời mặt trăng. Mặt trời, mặt trăng phân biệt đại biểu rõ Thắng Nghĩa với Thế Tục Bồ Đề Tâm 

_Chân Ngôn của Bát Nhã Phật Mẫu là: “Đa nhã tha: Ông, yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề, thoa cáp”

TADYATHĀ: OṂ  GATE  GATE  PĀRAGATE  PĀRASAṂGATE  BODHI  SVĀHĀ

Ý của Chú Ngữ là Đại Trí Tuệ đạt đến bờ kia! Biểu thị điều ấy hay tự độ cho mình, độ cho người (tự độ độ tha) đồng đến bờ kia… chặt đứt phiền não, vô minh, các chướng mà chứng Nhất Thiết Trí (Sarva-jña) của Niết Bàn (Nirvāṇa), chặt đứt Sở Tri Chướng (Jñeyāvaraṇa) mà biết Nhất Thiết Chủng Trí (Sarvathā-jñāna) của các Pháp, khiến thành tựu Chính Giác, viên thành Phật Đạo vậy.

24/01/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 24/01/2014

BẤT KHÔNG MA NI CÚNG DƯỜNG ĐÀ LA NI

BẤT KHÔNG MA NI CÚNG DƯỜNG ĐÀ LA NI (.PDF)

Bat Khong Quyen Sach

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Bất Không Ma Ni Cúng Dường Đà La Ni (Amogha-pūja-maṇi-dhāraṇī) được thấy ở Phẩm Bất Không Ma Ni Cúng Dường Chân Ngôn trong Kinh Bất Không Quyến Sách Thần Biến Chân Ngôn

“Bấy giờ Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát thấy Uy Đức Thần Biến của Quảng Đại Thần Thông Nhất Thiết Đại Mạn Noa La Ấn Tam Muội Gia này tràn đầy cõi nước ở mười phương, một thời hiện ra trao cho Thanh Tịnh Liên Hoa Minh Vương xong, liền nói Bất Không Ma Ni Cúng Dường Chân Ngôn

_Bất Không Ma Ni Cúng Dường Đà La Ni chỉ niệm ba biến thì ngang bằng với cúng dường rộng lớn. Ra ngoài đi xa thì có thể niệm Chú này ba biến:

“Ông, a mụ cát, bổ giáp ma ni, bối đắc mụ, oa cập lạp, đả tha cát đả, duy la cát đắc, tam mạn đả, bát lạp sái lạp, hồng”

OṂ_ AṂMOGHA  PAŚAṂ  MAṆI  PADMA-VAJRA  TATHĀGATĀVALOKITE SAMANTA  PARASARA  HŪṂ

(Theo người dịch thì câu Chân Ngôn này là:

OṂ_ AMOGHA-PŪJA-MAṆI  PADMA  VAJRE  TATHĀGATA   VILOKITE  SAMANTA  PRASARA   HŪṂ)

_Căn cứ vào sự ghi chép của Vô Lượng Thọ Như Lai Quán Hạnh Cúng Dường Nghi Quỹ là: “Quảng Đại Bất Không Ma Ni Cúng Dường Đà La Ni này, vừa mới tụng ba biến, liền thành ở trong Tập Hội của Đức Vô Lượng Thọ Như  Lai (Amitāyus-tathāgata) với vô số cõi nước nhiều như hạt bụi nhỏ…tuôn mưa vô lượng Cúng Dường (Pūja) rộng lớn. Ấy là: biển mây mọi loại hương xoa bôi, biển mây mọi loại vòng hoa, biển mây mọi loại hương thiêu đốt, biển mây mọi loại thức ăn uống màu nhiệm của cõi Trời, biển mây mọi loại quần áo màu nhiệm của cõi Trời, biển mây ánh sáng của mọi loại đèn đuốc Ma Ni; biển mây mọi loại phướng, phan, trướng báu, lọng báu. Biển mây mọi loại âm nhạc màu nhiệm của cõi Trời … ở khắp các chúng Hội của chư Phật Bồ Tát, thành cúng dường rộng lớn chân thật….đều do kết Ấn, tụng Chân Ngôn này cho nên đắc được vô lượng nhóm Phước giống như Hư Không không có bờ mé”

_Quán Thế Âm Bồ Tát bảo Chấp Kim Cương Bí Mật Chủ rằng: “Ma Ni Cúng Dường Chân Ngôn này. Nếu thường vào lúc sáng sớm, tu Pháp, quán tưởng tưởng tự tại kèm tụng trì cúng dường đủ ngàn vạn biến chẳng gián đoạn thì được tụ hội, sinh ra một dạng biển mây của Tượng để cúng dường rộng lớn. Chân Ngôn ấy có đủ mọi loại sức Thần Thông cũng như cây Ma Ni hay sinh ra vô lượng vô tận mọi loại vật tối thắng, như sức Công Đức vô tận của một dạng biển mây”

_Đức Thích Ca Như Lai bảo Chấp Kim Cương Bí Mật Chủ rằng: “Nhóm Ma Ni Cúng Dường Chân Ngôn này. Nếu có người như Pháp dùng giấy mỏng, thẻ tre, lụa… bên trên lụa, bên trên mảnh ván viết chép (Chân Ngôn này) ắt được tiêu diệt hết thảy năm nghiệp Vô Gián đã gom chứa trong quá khứ không còn dư sót. Người viết chép ấy, hoặc sau khi chết ắt sinh về cõi nước Cực Lạc ở phương Tây, cho đến Bồ Đề chẳng bị đọa vào nơi thọ nhận Noãn Thai Thấp Hóa (bốn cách sinh là: sinh từ trứng, sinh từ bào thai, sinh từ nơi ẩm thấp, sinh theo cách biến hóa) ở các cõi Phật thọ sinh trong hoa sen, được Túc Trụ Trí

_Bất Không Ma Ni Cúng Dường Đà La Ni là Quán Thế Âm Bồ Tát từ Đại Huyễn Hóa Tam Ma Địa dùng sức Thần Thông hóa hiện ra, là nhóm Phước tối thắng chẳng thể nghĩ bàn của Chân Ngôn Giới, là sức Đại Từ Bi của Quán Thế Âm Bồ Tát nhổ bứt bờ mé khổ đau cuối cùng của chúng sinh.

23/01/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 23/01/2014

PHỔ CÚNG DƯỜNG CHÂN NGÔN

PHỔ CÚNG DƯỜNG CHÂN NGÔN (.PDF)

Pho Cung Duong

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Phổ Cúng Dường Chân Ngôn lại có tên gọi là Đại Hư Không Tạng Phổ Cúng Dường Chân Ngôn

Phổ như một dạng của hư không rộng lớn vô biên, hư không hay sinh ra kho báu  cúng dường vô lượng vô tận. Công Đức ấy cũng là vô lượng vô tận.

_Cam Lộ Quân Trà Lợi Bồ Tát Cúng Dường Niệm Tụng Thành Tựu Nghi Quỹ: “Bậc Du Già nên ở đỉnh núi Tu Di (Sumeru) quán cái điện báu lớn. Cái điện ấy do ngọc Ma Ni (Maṇi) vô giá tạo thành, bốn phương bằng phẳng ngay ngắn, có đầy đủ bốn cửa. Hai bên trái phải của cái cửa có cây phướng Cát Tường, mái hiên lan can vây chung quanh, rũ treo khắp vòng hoa châu ngọc, Anh Lạc, chuông, chuông lắc tay, lụa màu, phan, mọi loại xen kẽ nhau để làm trang nghiêm, bày biện trong điện, gió nhẹ thổi qua phát ra âm thanh hòa nhã. Ở bốn góc bên ngoài điện với góc ở các cửa dùng nhóm nửa vành trăng, trăng đầy, báu Kim Cương mà trang sức. Cây báu xếp thành hàng, rũ treo áo Trời màu nhiệm, giáp vòng bày mây hương, tuôn khắp mưa hoa tạp. Lại ở bên ngoài ấy có vô lượng cây Kiếp Thụ (Kalpa-vṛkṣa) xếp thành hàng, chư Thiên tranh nhau tấu mọi âm nhạc màu nhiệm, bình báu, Át Già, thức ăn uống màu nhiệm của cõi Trời, Ma Ni làm đèn…

Tác Quán này xong thì tụng Kệ này:

“Dùng sức Công Đức Ta

Sức Như Lai gia trì

Cùng với sức Pháp Giới

Cúng dường khắp rồi trụ”

Nói Kệ này xong, liền kết Đại Hư Không Khố Tạng Ấn……

Kết Ấn này, tụng Mật Ngôn. Tưởng từ Ấn tuôn ra nhóm vật cúng, lầu gác như bên trên.

Chân Ngôn là:

“Ông, nga nga nẵng, tam bà phộc, phạt nhật la, hộc”

OṂ_ GAGANA  SABHAVA  VAJRA  HOḤ

(Theo người dịch thì câu Chân Ngôn này là: OṂ_ GAGANA  SAṂBHAVA  VAJRA  HOḤ)

Do Mật Ngôn, Ấn này gia trì cho nên, giả sử Quán chẳng thành thì đều thành cúng dường rộng lớn chân thật. Do Pháp Nhĩ này tạo thành vậy”

_Hành Giả quán tưởng từ Ấn sinh ra vô lượng mọi loại cúng dường: hương, hoa, đèn, đuốc, hương xoa bôi, thức ăn uống, phướng báu, phan, lọng… tức ở trước mặt Bản Tôn với tất cả Thánh Chúng đều thành tựu cúng dường rộng lớn chân thật.

Do uy lực của Chân Ngôn này tuôn ra tất cả mây biển đèn sáng cúng dường tất cả Như Lai với các Thánh Chúng. Quán tưởng nhóm vậy: phướng, phan, lọng, lưới, Anh Lạc, quần áo, lụa màu… các mây biển cúng dường tràn khắp vô biên Pháp Giới cúng dường…Đó là đầy đủ Luật Nghi thanh tịnh của tất cả Bồ Tát, có rất nhiều rất nhiều Công Đức chẳng thể nói. Trong điều ấy có rất nhiều Bí Mật thâm sâu. Đó là phóng ánh sáng lớn chiếu khắp hữu tình.

Như cúng dường này là thắng diệu thù đặc, là trang nghiêm thanh tịnh, là cúng dường rộng lớn.

23/01/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 23/01/2014

BẠCH TẢN CÁI PHẬT MẪU MAN ĐA LA

BẠCH TẢN CÁI PHẬT MẪU MAN ĐA LA (.PDF)

Bạch Tản Cái

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí

Việt dịch: HUYỀN THANH

Hình tướng của Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu có nhiều loại: một mặt hai cánh tay, ba mặt sáu cánh tay cùng với ngàn mặt ngàn cánh tay…

_Một mặt hai cánh tay: có ba con mắt, thân và dung mạo màu trắng, tay phải kết Dữ Nguyện Ấn hay mãn túc sự mong cầu của chúng sinh, tay trái cầm dù lọng trắng là một trong bảy loại báu với tám thứ cát tường, biểu thị xa lìa Tà Niệm có Ý là Tịnh Đức của Phật che trùm tất cả. Đầu đội mão báu, đeo ba vòng Anh Lạc, khoác áo Trời, quần lụa màu, vòng, xuyến, mọi báu trang sức đều đầy đủ, dùng dáng vẻ Kim Cương Gia Phu an trụ.

_Thiên Diện Thiên Tý Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu: Thân màu trắng có một ngàn khuôn mặt, một ngàn bàn tay, một ngàn bàn chân, khoác áo Trời, quần lụa màu, châu báu, Anh Lạc trang sức… ngàn bàn chân đứng uy nghiêm đạp trên lưng chúng sinh trong sáu đường

_Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu Kim Cương Đỉnh Kế Đại Hồi Già Mẫu, là Thiên Thủ Thiên Diện Thiên Nhãn nguyên là Bất Nhị Sí Nhiên Cụ Vạn Chủng Tướng Đích Khoan Quảng Đại Bạch Mẫu, Chủ Tể của chúng sinh trong tận ba cõi

Uy Lực của Đại Bạch Tản Cái Tâm Chú hay khiến cho hết thảy Oán Địch tự quy hàng lui tan, Thiên Ma Tà Ma lui tan kèm phá hủy tất cả Giáng Đầu Chú Trớ. Hay do A Di Đà Phật tăng thêm thọ mệnh, phá ba Ma trên Trời, ở đất, dưới nước (Thiên Ma, Địa Ma, Thủy Ma). Phàm tất cả tật ách, hồn mộng chẳng an, Võng Lượng hiện hình đều có thể phá hết.

Tu trì Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu Pháp hay được  mặt trời, mặt trăng, Tinh Đẩu vui vẻ ủng hộ rồi giáng Cát Tường, ban Phước. Người hay thọ trì, tụng Chú, cúng dường, đeo trên thân liền có mọi loại Công Đức, khi chết thời sinh về nước Phật, chẳng bị rơi vào sáy đường vậy.

Xưa kia khi chúng A Tu La (Asura) thấy Thiên Nhân có Phước Báo lớn, mới  dấy lên sân hận lớn, liền tụ họp Chúng đánh phá Thiên Nhân. Thiên Nhân chợt chẳng thể chống cự lại nên Đế Thích (Indra) đi đến cầu xin Đức Phật Thích Ca Mâu Ni gia trì. Đức Phật thương xót nên trên đỉnh đầu hiện Pháp Thân Vô Địch Kim Cương Phật Mẫu tay cầm dù lọng trắng lớn, đồ sộ không có gì so sánh được, tuyên nói Đại Bạch Tản Cái Đà La Ni. Chúng Tu La sợ hãi né tránh chạy trốn, mới ngưng được cuộc chiến tranh này. Đây là Duyên Khởi của Đức Thế Tôn tuyên nói Đại Bạch Tản Cái Đà La Ni.

[Chư Phật nói Pháp

Ắt đủ Nhân Duyên

Pháp đã nói ấy

Tên chung là Kinh (Sūtra)

Chân Tâm của Kinh

Đấy gọi là Chú (Mantra)

Hoặc xưng Chân Ngôn

Tổng Trì Đà La Ni (Dhāraṇī)]

_Bài Kệ khen ngợi Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu như bên dưới:

“Vô Hữu Năng Địch Đại Khẩn Mẫu

Đại Xuyết Phác Mẫu, Đại Lực Mẫu

Đại Sí Nhiên Mẫu, Đại Uy Lực

Đại Bạch Cái Mẫu, Đại Lực Mẫu

Sí Nhiên Quải Anh, Bạch Y Mẫu

Thánh Cứu Độ Mẫu, Kim Cương Danh

Chủng Chủng Kim Cương Xưng Đỉnh Kế

Liên Hoa Nhãn với Nguyệt Quang Mẫu”

*) Phụ Chú của người dịch:

Hai Chân Ngôn thường được dùng trong Pháp tu Man Đa La này là:

1_ OṂ _ SARVA  TATHĀGATOṢṆĪṢA  SITĀTA-PATRE  HŪṂ  PHAṬ

HŪṂ  MAMA  HŪṂ  NI _ SVĀHĀ

2_ OṂ_ SITĀTA-PATRE  PARĀJITE,  SARVA  GRAHAṂ  TRĀŚAYA  TRAŚAYA, HANA  HANA, ṬRŪṂ  ṬRŪṂ, HŪṂ  HŪṂ, PHAṬ  PHAṬ _ SVĀHĀ

22/01/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 23/01/2014

ĐẠI PHẬT ĐỈNH THỦ LĂNG NGHIÊM TÂM CHÚ

ĐẠI PHẬT ĐỈNH THỦ LĂNG NGHIÊM TÂM CHÚ (.PDF)

Thủ Lăng Nghiêm

Hán văn: Chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Lăng Nghiêm Thần Chú gồm có 427 câu. Chú này được xưng là Chú Vương. Khi Đức Phật vì cứu Tôn Giả A Nan (Ānanda) cho nên từ trong Nhục Kế (Uṣṇīṣa) trên đỉnh đầu phóng ra trăng luồng ánh sáng vô úy báu, trong ánh sáng phun ra hoa sen ngàn cánh, có một vị Như Lai ngồi trên hoa sen. Vị Hóa Phật (Nirmāṇa-buddha) ấy cũng là Đế Thù La Thi (Tejoraśi), lại còn hiện ra hằng hà sa số vị Nội Mật Bồ Tát với Kim Cương Thần tràn đầy hư không.

Kinh Lăng Nghiêm nói rằng: “Như Lai ở mười phương nhân vào Chú Tâm này mà được Vô Thượng Chính Biến Tri Giác. Chúng sinh đời Mạt Thế có thể tự mình tụng thì lửa chẳng thể thiêu đốt, nước chẳng thể cuốn chìm, độc lớn độc nhỏ chẳng thể gây hại, hết thảy nẻo ác thảy đều chẳng thể bám dính, hay khiến cho người phá Giới được Giới Căn thanh tịnh, người không có Trí Tuệ thì khiến được Trí Tuệ. Tất cả tội chướng giống như nước nóng làm tiêu tan băng tuyết, chẳng lâu đều được ngộ Vô Sinh Nhẫn, sau khi chết thì tùy theo Nguyện mà sinh về Tịnh Thổ ở mười phương. Có trì tụng Chú này, hoặc đeo trên thân thì cầu con trai con gái đều được con trai con gái, cầu sống lâu sẽ được sống lâu, cầu quả báo viên mãn thì mau được viên mãn, cũng hay bảo hộ các người tu hành nhập vào Tam Ma Địa (Samādhi), lại không có Ma Oán đi đến bên trong gây não hại được”

_Lăng Nghiêm Vương Tâm Chú:

“Ông, a noa liệt, a noa liệt, duy hạ đạt, duy hạ đạt, bàn đạt bàn đạt, bàn đạt nễ bàn đạt nễ, hoài lạt, phạp cập lạt bá ni, phạ đô, hồng, bột lỗ mẫu, phạ đô, thoa cáp”

OṂ_ ANALE  ANALE,  VIŚADA  VIŚADA, BANDHA  BANDHA, BANDHANI  BANDHANI, VAIRA  VAJRA-PĀṆI  PHAṬ  HŪṂ  BHRŪṂ  PHAṬ  SVĀHĀ

Chân Phật Hành Giả trì Chú này thì có thể dùng như quán tưởng này: “Khi tụng Chú thời đem một chữ Chú màu vàng ròng (Phạn văn) Bột Lỗ Mẫu (BHRŪṂ) an ở đỉnh đầu của Hành Giả, phóng ánh sáng chiếu tất cả chúng sinh.

Bột Lỗ Mẫu (BHRŪṂ) là chữ chủng tử của Đại Nhật Như Lai Phật Đỉnh

_Công Đức của Chú này rất lớn, có lợi ích như bên dưới:

.) Kéo dài tuổi thọ (diên thọ)

.) Không có Ma Oán

.) Cầu con trai được con trai, cầu con gái được con gái

.) Được quả vị Vô Sinh Pháp Nhẫn

 .) Nước, lửa, tất cả chất độc chẳng thể gây hại

.) Trừ tất cả Chú ác khiến phải chịu hàng phục

.) Được Tuệ vô thượng

22/01/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 22/01/2014

THIÊN CHUYỂN LUÂN CHÚ

THIÊN CHUYỂN LUÂN CHÚ (.PDF)

THIEN CHUYEN LUAN

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Phục hồi Phạn Chú và Việt dịch: HUYỀN THANH

Trong Pháp Môn Mật Tông có một Pháp bí mật, ấy là Thiên Chuyển Luân Pháp, cũng có Thiên Chuyển Luân Chú. Việc ấy cũng là một Diệu Pháp tinh tế, ấy tức là một Hành Giả Mật Tông niệm Chú, chỉ niệm một biến, sử dụng xong Thiên Chuyển Pháp  hoặc Thiên Chuyển Luân Chú. Một biến Chú ấy hay biến thành một ngàn biến, ấy là Đại Phương Tiện Mật Pháp biến hóa rất đầy đủ

Khi hành Pháp thời trước tiên quán tưởng Pháp Luân (Dharma-cakra:bánh xe Pháp), tụng tán:

“Chư Thiên, Thần Tướng hộ Pháp Luân

Nay con cầu chuyển Thiên Biến Luân

Tâm như Pháp đến, hiện Mật Ý

Mỗi mỗi như Chân Quang (ánh sáng chân thật) rõ ràng”

Lúc đó, Pháp Luân (bánh xe Pháp)  xoay chuyển, trong hư không hiện ra mỗi một Hành Giả, cộng chung có Chúng gồm một ngàn người. Một ngàn cá nhân cũng là phân thân của mình biến hóa ra tràn đầy toàn bộ hư không. Khi ấy quán tưởng Hành Giả trong hư không, toàn bộ chắp tay niệm tụng Chân Ngôn. Một câu Chân Ngôn Chú ấy cũng ngang bằng với một ngàn người này đồng thời niệm tụng. Niệm xong, lạy Phật một lạy. Lại niệm câu thứ hai, niệm xong, lạy Phật một lạy. Niệm mười câu, lạy Phật mười lần. Chú này ngang bằng với trọn đủ một vạn biến.

_Còn Thiên Chuyển Luân Pháp được thuật cặn kẽ như nhau:

Hành Giả ngay thẳng thân tĩnh tọa, lắng định Tâm Ý. Niệm của quá khứ, hiện tại, vị lai đều chẳng dính với thân tâm. Ấy cũng là Pháp Giới Tam Muội Địa. Tưởng trên đỉnh đầu của thân mình có một chữ Phạn Lan (劣:RAṂ). Khắp chữ này có ánh sáng như trăng đầy, sau đó hóa làm hìng tam giác, bên trên có lửa màu hồng. Lửa của hình Tam Giác này thiêu đốt thân tâm của mình

Tụng Chú “Lan” (RAṂ) 21 biến hay thiêu đốt hết tất cả tội chướng cũa người tu hành.

Lại người tu hành trước tiên dùng bàn tay phải lấy tràng hạt (niệm châu) cuốn ở bàn tay trái, lại dời đến bàn tay phải, hai tay tác Liên Hoa Hợp Chưởng nâng tràng hạt đến phương trước mặt trên đỉnh đầu.

Niệm “Ông, lan, thoa cáp” [OṂ  RAṂ  SVĀHĀ] (Tất cả thanh tịnh)

Niệm “Ông, hoài lô giai na, ma lạp, thoa cáp” [OṂ  VAROCANA  MĀLA  SVĀHĀ) (châu (tràng hạt) thanh tịnh)

Niệm “Ông, phạp cập lạp, cốt hách nha, ca bát, tam ma gia, hồng” [OṂ  VAJRA-GUHYA  JAPA  SAMAYA  HŪṂ] (Thiên Chuyển Chú)

Niệm một câu ấy cũng ngàng bằng với một ngàn câu. Ấy là Pháp bí mật và cũng là Thiên Chuyển Luân Pháp, Thiên Chuyển Đàn Pháp 

21/01/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 19/01/2014

CỬU PHẨM VÃNG SINH

CỬU PHẨM VÃNG SINH (.PDF)

Cửu Phẩm A Di Đà

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí

Việt dịch: HUYỀN THANH

Quán Vô Lượng Thọ Kinh với A Di Đà Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh hợp xưng là Tịnh Thổ Tam Bộ Kinh. Kinh này trình bày rõ tư tưởng Tịnh Thổ của Vô Lượng Thọ Kinh, kể lại chuyện Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Śākya-muṇi) ứng với sự thỉnh cầu của phu nhân Vi Đề Hy (Vaidehī) ở trong cung của Tần Bà Sa La (Bimbisāra) vì Tín Chúng giảng thuật quán tưởng thân tướng của Đức Phật A Di Đà (Amitāyus: Vô Lượng Thọ) với 16 phương pháp quán tưởng trang nghiêm Tịnh Thổ Cực Lạc (Sukha-vatī)

Trong 16 Quán “Tây Phương Tịnh Thổ”  thì 13 Quán trước là:

Nhật Lạc Quán (Quán mặt trời sắp lặn)

Thủy Tịnh Quán (Quán sự trong sạch của nước)

Bảo Địa Quán (Quán đất báu)

Bảo Thụ Quán (Quán cây báu)

Bảo Trì Quán (Quán ao báu)

Bảo Lâu Quán (Quán lầu gác báu)

Bảo Tòa Quán (Quán tòa báu)

Phật Kim Thân Quán (Quán thân vàng ròng của Đức Phật)

Phật My Gian Bạch Hào Tướng Quán (Quán tướng lông mày trắng ở tam tinh của Đức Phật)

Quán Thế Âm Bồ Tát Quán (Quán Bồ Tát Quán Thế Âm)

Đại Thế Chí Bồ Tát Quán (Quán Bồ Tát Đại Thế Chí)

Cực Lạc Thế Giới Quán (Quán Thế Giới Cực Lạc)

Tạp Tưởng (Tưởng tạp)

Trong 16 Quán thì Quán thứ 14 là Thượng Phẩm Sinh Quán, quán thứ 15 là Trung Phẩm Sinh Quán, quán thứ 16 là Hạ Phẩm Sinh Quán. Ba Quán này lại chia ra làm ba Phẩm Thượng Trung Hạ, đây là Cửu Phẩm Liên Hoa Sinh

_Quán Vô Lượng Thọ Kinh: phần đầu nói rõ tu ba Phước làm Nhân (Hetu) chính của nghiệp trong sạch (Viśuddha-karma:Tịnh Nghiệp). Trong ba Phước thì Phước thứ nhất là căn lành của Thế Gian, Phước thứ hai tức là sự tốt lành của việc giữ Giới, Phước thứ ba tức là hành Thiện độ người. Phần sau nói rõ Nhân Quả vãng sinh của chín Phẩm khiến cho người có nghiệp chướng nặng, xưng niệm danh hiệu của Đức Phật làm Hạnh chính. Do xưng danh hiệu của Đức Phật cho nên hay trừ tội của nhiều Kiếp, liền được sinh về Tây Phương Tịnh Thổ.

_Trong Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh ghi chép là:

Nhóm bậc Thượng là: buông bỏ nhà cửa, vứt bỏ ái dục mà làm Sa Môn, phát Tâm Bồ Đề, một hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, tu các Công Đức, nghiện sinh về nước ấy.

Nhóm bậc Trung là: tuy chẳng thể hành làm Sa Môn, tu Công Đức lớn, một hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, tùy theo sự tu hành của chính mình: các Công Đức tốt lành, phụng trì Trai Giới, dựng lập Tháp Tượng, dâng thức ăn cho Sa Môn, treo lụa là, thắp đèn, rải hoa, đốt hương… đem điều này hồi hướng, nguyện sinh về nước ấy

Nhóm bậc Hạ là: chẳng thể làm các Công Đức, chỉ một hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, vui vẻ tin tưởng ưa thích, chẳng sinh nghi ngờ. Dùng Tâm chí thành nguyện sinh về nước ấy.

_Đại Sư Ấn Quang nói rằng: “Quán chín Phẩm chẳng qua là khiến cho người biết Nhân Quả của Vãng Sinh. Chỉ cần hiểu rõ liền xong, chẳng cần phải tác Quán. Người ấy một lòng trì danh hiệu, chỉ cần chí Tâm quy nơi một thì cảnh thanh tịnh tự tụ hội, hiện ra trước mặt vậy”

Tuy nhiên, Thế Giới Cực Lạc ở phương Tây có cấp bậc khác biệt chẳng đồng của ba nhóm, chín Phẩm. Chỉ là sự tất yếu cần có đầy đủ niềm tin, ước nguyện, một lòng niệm Phật thì chẳng luận nghiệp tội là nhẹ hoặc nặng, đều có thể được sinh về Tây Phương Tịnh Thổ.

 

19/01/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 19/01/2014

TAM THẬP NGŨ PHẬT MAN ĐA LA

TAM THẬP NGŨ PHẬT MAN ĐA LA

35 Phật

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 19/01/2014

Quang Minh Chân Ngôn

Quang Minh Chân Ngôn (.PDF)

image002

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Có một Chân Ngôn tên là Quang Minh. Cứu độ Vong Linh. Công Đức rất lớn. Có Kệ là:

“Nghe tiếng diệt tội

Rải cát độ Vong

Thường tự tụng Kinh

Diệt tội, tăng Thiền (Dhyāna)

Sinh về phương Tây”

_Kinh Mật Giáo nói rằng: “Nếu các chúng sinh gây tạo đủ các tội: mười ác, năm nghịch, bốn nặng… thân hoại mệnh chung bị rơi vào đường ác. Dùng Chân Ngôn này gia trì vào đất cát 108 biến rồi rải lên thây của người đã chết, hoặc rải trên ngôi mộ thì Vong Linh ấy liền được sinh về cõi nước Cực Lạc ở phương Tây. Nếu có chúng sinh nghe Chân Ngôn này 2, 3, 7 lần thông qua lỗ tai liền được trừ diệt tất cả tội chướng”

_Chân Ngôn này nguyên có tên gọi là Tỳ Lô Giá Na Quán Đỉnh Quang Chân Ngôn

Chân Ngôn như bên dưới:

“Ông, A ma ca, hoài lỗ giai noa, ma cáp mẫu đức lạt. ma ni bát đức ma, cập phạp lạp, bát lạp phạp nhĩ đả nha, hồng”

OṂ_ AMOGHA-VAIROCANA  MAHĀ-MUDRA  MAṆI  PADMA JVALA  PRAVARTTAYA

_Chú này tức là Quang Minh Chân Ngôn

Khi tụng Chú thời cần thiết nên quán tưởng trong vành trăng ở trái tim có một chữ A (唒) theo Phạn Văn màu vàng ròng, phóng ánh sáng chiếu khắp tất cả chúng sinh. Người được chiếu chạm đến thảy đều lìa khổ được vui

Quang Minh Chân Ngôn căn cứ vào Bất Không Quyến Sách Thần Biến Tâm Chân Ngôn Kinh đã ghi chép: Tụng trì Bản Chú có thể diệt tất cả tội nặng, chúng sinh một lần nghe được Chú này liền diệt tất cả tội chướng.

Dịch Ngữ (lời nói) có thể giải thích là:

Ông (quy mệnh) [OṂ]

A Ma Cát (Bất Không không có gián đoạn) [AMOGHA]

Hoài lỗ giai noa (Tức Tỳ Lô Giá Na, Quang Minh Biến Chiếu, Đại Nhật Như Lai) [VAIROCANA]

Ma cáp (Đại, to lớn) [MAHĀ]

Mẫu Đức lạt (Ấn) [MUDRA]

Ma Ni (viên ngọc báu) [MAṆI]

Bát Đức Ma (hoa sen) [PADMA]

Cập Phạp Lạp (quang minh, ánh sáng) [JVALA]

Bát lạp phạp nhĩ đả nha (Chuyển tiến) [PRAVARTTAYA]

Hồng (mãn Bồ Đề Nguyện) [HŪṂ]

19/01/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 18/01/2014

PHẬT ĐỈNH MẠN TRÀ LA

PHẬT ĐỈNH MẠN TRÀ LA (.PDF)

Phat Dinh mandala

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí

Việt dịch: HUYỀN THANH

Nhất Tự Kim Luân Phật Đỉnh, tên gọi riêng là Nhất Tự Luân Vương Phật Đỉnh, Kim Luân Phật Đỉnh Vương, Nhất Tự Luân Vương Phật Đỉnh… là Bản Tính của Đại Nhật Như Lai (Vairocana-tathāgata) và Thích ca Mâu Ni Phật (Śākya-muṇi-buddha).

Trong Nhất Tự Kim Luân lại chia ra làm Đại Nhật Kim Luân với Thích Ca Kim Luân 

_Nhất Tự Kim Luân Phật Đỉnh Pháp: Tu trì Pháp ấy có thể y theo:

1_ Nhất Tự Kỳ Đặc Phật Đỉnh Kinh

2_ Nhất Tự Đỉnh Luân Vương Niệm Tụng Nghi Quỹ

3_ Nhất Tự Phật Đỉnh Luân Vương Kinh

4_ Nhất Tự Đỉnh Luân Vương Du Già Kinh

5_ Kim Luân Vương Phật Đỉnh Yếu Lược Niệm Tụng Pháp

6_ Kim Cương Đỉnh Kinh Nhất Tự Đỉnh Luân Vương Du Già Nhất Thiết Thời Xứ Niệm Tụng Thành Phật Nghi Quỹ

7_ Đại Đà La Ni Mạt Pháp Trung Nhất Tự Tâm Chú Kinh

_ Kết Ấn ấy là Trí Quyền Đại Ấn 

_Quán Tưởng ấy là: “Một sát na, do Trí Luân biến thành thân Kim Cương Luân Vương Biến Chiếu Như Lai, thân hình ấy như mặt trăng trắng tinh, đầu đội mão báu Kim Cương, Luân Man là vật trang sức đội trên đầu, tất cả tướng tốt, đủ mọi báu trang nghiêm, trì Trí Quyền Đại Ấn. Pháp Tòa ấy là Sư Tử Nhật Luân Bạch Liên Hoa Tòa”.

_ Chú ấy là: “Bột lỗ ông”

BHRŪṂ

Chú này cùng với Đại Nhật Kim Luân, Thích Ca Kim Luân đồng một Bản Thể, mà lại cùng với Phật Nhãn Phật Mẫu Chú có quan hệ.

Kinh nói rằng: ‘Này Đại Thiện Nam Tử! Nếu ở nơi cư ngụ, trì Phật Đỉnh Chú này thì trong 500 Do Thiện Na, tất cả Chú Vương thuộc Thế Gian, Xuất Thế Gian đều không có thành trụ”.

Lại nói rằng: “Tất cả các Bồ Tát thuộc Thập Địa cũng sợ Thần Lực Uy Đức của Chú này, huống chi là chư Thiên, kẻ có uy lực nhỏ. Nếu thường tụng Nhất Tự Phật Đỉnh Luân Vương Chú này thời, mỗi lần nên trước tiên tụng Phật Nhãn Chú này bảy biến xong, rồi mới an tụng Nhất Tự Phật Đỉnh Luân Vương Chú này. Thời số xong rồi, lại tụng Phật Nhãn Chú bảy biến ắt được an ổn, không có các nhiễu não”

Nhất Tự Kim Luân Phật Đỉnh Pháp này là một trong sáu loại Đại Mật Pháp của Đài Mật. Như quả có người thành Tâm, thành Ý tu trì Pháp này thì các tai vạ, điên cuồng, câm điếc, các chứng bệnh nặng đều có thể khỏi bệnh, sinh sản cũng có thể được bình an. Công Đức ấy lớn phi thường mà lại rộng lớn thù thắng.

18/01/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 18/01/2014

THÍCH CA TIÊU NGHIỆP ĐẠI CHÂN NGÔN

THÍCH CA TIÊU NGHIỆP ĐẠI CHÂN NGÔN (.PDF)

Thich Ca Tieu Nghiep Chan Ngon

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nguyên là vua Công Đức của Bạc Già Phạm Ứng Chính Đẳng Giác và Ngài cũng là vị Giáo Chủ của Thế Giới Sa Bà (Sāha-loka-dhātu)

Ngay trong Mật Pháp, Đức Phật Thích Ca chính là Bản Tôn của việc sám hối tội chướng, tiêu trừ nghiệp chướng. Có rất nhiều Tăng Nhân với Đệ Tử của Phật biết Đạo, hứa nhiều phương pháp tiêu trừ nghiệp chướng, có điều Môn khác chẳng biết rõ Chân Ngôn của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lại là Đại Bí Mật tiêu trừ nghiệp tội cực nặng. Pháp này được nói tinh tế như bên dưới:

Hai tay kết Thích Ca Mâu Ni Phật Thủ Ấn: Dựng đứng ngón cái, ngón giữa, ngón út trong hư không. Co ngón trỏ, ngón vô danh vào tâm lòng bàn tay, chắp hai tay lại

Vào Đàn: tĩnh tọa, kết Ấn, quán tưởng: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trụ ở trung ương ngay phương trước mặt, thân thuần màu vàng ròng, tay phải đè mặt đất, tay trái là Định Ấn, bên trên Định Ấn nâng cái bình bát chứa đầy Cam Lộ (Amṛta), trên thân khoác ba loại áo của người xuất gia, tướng mạo viên mãn trang nghiêm, ánh sáng trong suốt, thân thể tựa như  một loại Lưu Ly (Vaiḍurya), ngồi an lành trên tòa hoa sen trắng, trong ánh sáng nhập vào Định

Lúc này, quán tưởng nước Cam Lộ trong cái bình bát Cam Lộ ấy hóa thành một đường ánh sáng màu trắng, thành một tia sáng hướng xuống dưới, giáng đến nơi mà mình đang tĩnh tọa, rồi ánh sáng trắng từ đỉnh đầu nhập vào, thân của mình ngồi Định ngay trong một vùng ánh sáng trắng

Do tia sáng trắng rưới rót vào đỉnh đầu rồi chảy vòng trong thân, đẩy nghiệp chướng có màu đen ra bên ngoài, hóa ở trong luồng hơi rộng lớn (đại khí). Quán tưởng trạng huống ấy liền có thể tiêu trừ tội chướng của vạn kiếp trong quá khứ.

Quán tưởng kết thúc, liền trì Thích Ca Mâu Ni Phật Tiêu Nghiệp Đại Chân Ngôn 108 biến. Chân Ngôn như bên dưới:

Na ma la đát na, thất cật nê, đát tha nga đa dã, a la ha đế, tam miểu cật tam một đà dã. Đát ninh tha: Ông, la đát nê, la đát nê, tô la đát nê, la đát nô na bà vị, ma hạ la đát na, chỉ la nê, la đát na tam bà bị, sa bà hạ”

NAMO  RATNA-ŚIKHINE TATHĀGATĀYA  AṂRHATE  (? ARHATE) SAMYAKSAṂBUDDHAYA (?SAMYAKASAṂBUDDHĀYA)

TADYATHĀ: OṂ_ RATNE  RATNE,  SURATNE,   RATNODBHAVE,  MAHĀ-RATNA  KIRAṆI,  RATNA-SAṂBHAVE  SVĀHĀ

Chú này mỗi khi tu thì một lần hồi Pháp, niệm 49 biến hoặc 108 biến. Tu Pháp theo trạng huống ấy liền có thể tiêu trừ hết tội chướng của vạn kiếp

Trọng điểm của Pháp này ở tại tia sáng trắng của nước Cam Lộ ngang bằng với sự quán đỉnh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đấy. Dùng nghĩa tối thượng của Phật Quả, từ đỉnh đầu rồi nhập vào trong thân của mình, hay khiến cho Công Đức biến thành ý của Đại Viên Mãn. Điều này đương nhiên là Mật Pháp tiêu trừ nghiệp chướng rất lớn.

Thích Ca Mâu Ni Phật Tiêu Nghiệp Đại Chân Ngôn cũng là Túc Mệnh Trí Đà La Ni. Trì Chân Ngôn này hay biết Túc Mệnh (Mạng của đời trước), biết rõ nhân quả trong đời trước.

Phật Thuyết Túc Mệnh Trí Đà La Ni Kinh nói rằng: Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo A Nan (Ānanda) rằng: “Có Đà La Ni tên là Túc Mệnh Trí, nếu có chúng sinh nghe được Đà La Ni này, hay chí Tâm thọ trì thì hết thảy nghiệp tội cực nặng trong một ngàn kiếp thảy đều tiêu diệt. Nếu hay trọn đời chẳng gián đoạn thì người này ở bảy câu chi đời thường biết Túc Mệnh”

18/01/2014

Đăng bởi: Tống Phước Khải | 18/01/2014

AN ĐỊA THIÊN CHÂN NGÔN

AN ĐỊA THIÊN CHÂN NGÔN (.PDF)


image002

Hán văn: chỉnh lý Nhiên Đăng tạp chí biên tập bộ

Việt dịch: HUYỀN THANH

Liên Sinh Hoạt Phật (Phật sống Liên Sinh) thường thường dạy bảo Đại Gia niệm một Chú Ngữ ấy. Chú Ngữ ấy chẳng phải là Đại Chú, chẳng phải là Bí Mật Chú, chẳng phải là Phóng Đại Quang Minh Chú, chẳng phải là Vô Đẳng Đẳng Chú, chẳng phải là Vô Thượng Chú, mà là Tiểu Chú Ngữ phổ thông, ngay trên bất kỳ Kinh Điển nào đều có thể nhìn thấy rất bình thường. Bình thường đến độ khiến cho nhiều người xem thường điều ấy. Điều ấy chính là “An Thổ Địa Chân Ngôn”

Chú này như bên dưới: “Nam ma tam mãn đa mẫu đà nam. Ông, độ lỗ độ lỗ, địa vĩ, thoa cáp”

NAMAḤ  SAMANTA  BUDDHANĀ_ OṂ  DHURU  DHURU  DHIVI  SVĀHĀ

(Theo người dịch thì câu Chú này là: NAMAḤ  SAMANTA  BUDDHĀNĀṂ_ OṂ  DHURU  DHURU  DEVĪ  SVĀHĀ)

Liên Sinh Hoạt Phật trung thực mách bảo cho Đại Gia chính là Chú Ngữ ấy, thuận theo có thể dùng cải biến vận mạng, cái ấy chẳng phải là An Thổ Địa Chân Ngôn ư? Chẳng sai lầm, chỉ là cái ấy có đủ lực lượng lớn để cải biến vận mạng, chân chính chẳng phải đột nhiên nhìn thấy

Có người trì An Thổ Địa Chân Ngôn thời da dẻ bị bệnh tật đã lâu rất khó chữa trị, đều được khỏi

Có người, khuôn mặt có My Khí một đời nghèo khó, do lâu dài trì An Thổ Địa Chân Ngôn được ánh sáng Phước chiếu mệnh, nên mạng vận sửa đổi hoàn toàn, chuyển nghèo thành giàu có.

Có người trì An Thổ Địa Chân Ngôn trọn mười năm chẳng mang thai, lại có con

Có người trì An Thổ Địa Chân Ngôn mà một đời mạnh khỏe không có bệnh.

Có người trì An Thổ Địa Chân Ngôn được nhân duyên tốt, trên sắc mặt (hoặc gò má) của người ấy hiện ánh sáng màu hồng.

Có người trì An Thổ Địa Chân Ngôn, mọi việc xưa nay chẳng thuận lợi, cuối cùng mỗi mỗi loại đều thuận lợi, không có một việc nào chẳng như ý.

Có người trì An Thổ Địa Chân Ngôn, trong sự khen thưởng lớn, quay trở lại mách bảo cho Đại Gia một bí mật ấy. Bí Mật ấy xưa nay chẳng thể nói, chỉ cần nhẫn chịu chẳng trụ, chẳng đắc được, chẳng nói… anh chị chỉ cốt yếu thường trì An Thổ Địa Chân Ngôn, đầy đủ “Lạp Tư Duy Gia Tư” gắng sức thì anh chị gặp được sự đặc biệt như ý.

Trì lâu dài Chú Ngữ ấy, căn bản không có người đề xướng, chỉ có Liên Sinh Hoạt Phật đề xướng. Liên Sinh Hoạt Phật lãnh ngộ đầy đủ một nguyên lý: học Phật đương nhiên có thể dùng cải biến mạng vận. Học Tiên cũng có thể dùng cải biến mạng vận. Chỉ cần trực tiếp niệm An Thổ Địa Chân Ngôn thì sự cải biến mạng vận ấy liền thay đổi trực tiếp.

Điều thiết yếu cải biến mạng vận của chính mình là nắm giữ then chốt của Tạo Hóa, đích xác dùng một loại Pháp Thuật nào, đều cần thiết phải hợp với Khế Cơ, khế hợp với Cơ Duyên. Còn chỉ cốt yếu niệm An Thổ Địa Chân Ngôn thì hơn hẳn ngàn lần, hơn hẳn vạn lần, hơn hẳn ức lần. Một lòng phụng trì thì ánh sáng Phước của Địa Thần chiếu mạng, ắt có thể cải vận. Điều ấy là chân thật vậy.

 17/01/2014

« Newer Posts - Older Posts »

Categories