Đăng bởi: TPK | 28/03/2014

CÁT TƯỜNG HỶ KIM CƯƠNG

CÁT TƯỜNG HỶ KIM CƯƠNG (.PDF)

CÁT TƯỜNG HỶ KIM CƯƠNG

CÁT TƯỜNG HỶ KIM CƯƠNG

Soạn dịch: HUYỀN THANH

Cát Tường Hỷ Kim Cương, tên Phạn là Śrī-hevajra, âm Phạn đọc là Hắc Bạt Chiết La, Tây Tạng dịch là Giới Đa Kiệt hoặc Kiệt Ba Đa Kiệt.  Dịch ý ắt có danh xưng chẳng đồng là Hỷ Kim Cương (Hevajra), Đại Bi Không Trí Kim Cương, Hoan Hỷ Kim Cương, Ẩm Huyết Kim Cương, Đại Lạc Kim Cương, Ý Kim Cương… là một trong năm vị Đại Minh Vương thuộc Vô Thượng Du Già Mật của Tạng Truyền Phật Giáo

Cát Tường (Śrī): đại biểu cho đầy đủ Phước Tuệ, viên mãn đủ Trí chẳng hai

Hỷ (He): đại biểu cho sự chứng đắc Vô Ngã, Đại Từ Đại Bi lợi ích cho hữu tình

Kim Cương (Vajra): đại biểu cho Trí Tuệ của Bát Nhã Không Tính

Cát Tường Hỷ Kim Cương hàm chứa sự giác ngộ đầy đủ của Từ Bi và Trí Tuệ. Trí Tuệ hay khiến cho con người hiểu rõ, thấu triệt sự vọng tưởng chấp mê của tự ngã, là yếu tố căn bản để giải thoát các khổ. Từ Bi là sự biểu hiện cụ thể của việc đem  niềm vui của Pháp cực lớn này chia đều cho người khác

_Vào thời của Tống Nhân Tôn (Bắc Tống) thì Giáo Pháp của Hỷ Kim Cương mới bắt đầu truyền vào Trung Quốc thông qua bản Phật Thuyết Đại Bi Không Trí Đại Giáo Vương Nghi Quỹ Kinh do vị Tăng Ấn Độ là Thích Pháp Hộ (Công Nguyên:936_1004) phiên dịch từ bản Phạn.

Đến thời đại của Nguyên Sơ Thế Tổ Hốt Tất Liệt thì Sa Nam Nhật La Phức là Đệ Tử của Phát Tư Ca (Tổ thứ năm của Phái Tát Ca Tây Tạng) đem Hỷ Kim Cương Du Già Thật Tu Pháp Môn từ Ấn Độ vào Tây Tạng và phiên dịch thành Hán Văn. Đây tức là Cát Tường Hỷ Kim Cương Tập Luân Cam Lộ Tuyền

Đến thời của vua Minh Anh Tôn thì chế thành bản Nê Kim Đan Thanh Tả Hội, Hội đầu của Kinh Quyển có Cát Tường Hỷ Kim Cương Đàn Thành trang nghiêm rất tinh tế kỹ lưỡng

_ Hình tượng của Cát Tường Hỷ Kim Cương (Hay Hỷ Kim Cương) có hai dạng chủ yếu là tượng Đơn Thân và tượng Song Thân

.)Tượng Đơn Thân:

Thân màu xanh lam có 8 mặt, 16 cánh tay, 4 cái chân, mỗi mặt đều có ba con mắt, tướng phẫn nộ lộ răng nanh bén nhọn, đầu đội mão xương người, tóc màu vàng dựng đứng lên trên, cổ đeo vòng chuỗi 50 cái đầu người còn tươi mới. Tám tay bên phải đều cầm một cái bát đầu lâu, bên trong bát chứa voi màu trắng, ngựa màu xanh, lừa màu hồng, bò màu hồng, lạc đà màu tro, người màu hồng, sư tử màu xanh, vị Thần màu đỏ (Xích Thần). Tám tay bên trái đều cầm cái bát đầu lâu, bên trong bát theo thứ tự chứa Địa Thiên màu vàng, Thủy Thần màu trắng, Hỏa Thần màu hồng, Phong Thần màu xanh, Nguyệt Thiên màu trắng, Nhật Thiên màu hồng, Nhạc Đế (Vua Diêm La) màu xanh, Thí Tài (Thần Tài) màu vàng… Duỗi chân phải, co gập chân trái, dẫm đạp lên hai thân người nằm ngửa, đứng như tướng múa trên tòa báu hoa sen

Ý nghĩa của hình tượng:

.)Thân màu xanh lam đại biểu cho không gian và ý thức

.)Tám khuôn mặt đại biểu cho tám Giải Thoát của sự hay vứt bỏ Tham Dục thuộc Sắc (Rūpa) và Vô Sắc (Arūpa) là: Hữu Sắc Quán Sắc Giải Thoát, Vô Sắc Quán Sắc Giải Thoát, Tịnh Sắc Giải Thoát, Không Vô Biên Xứ Giải Thoát, Thức Vô Biên Xứ Giải Thoát, Vô Sở Hữu Xứ Giải Thoát, Phi Thưởng Phi Phi Tưởng Xứ Giải Thoát, Diệt Thọ Tưởng Giải Thoát

.)Tướng phẫn nộ (lộ răng nanh bén, tóc màu vàng dựng đứng lên trên) đại biểu cho sự dùng Tâm Đại Bi bày hình tượng phẫn nộ, giáng phục hữu tình có khuynh hướng Tá Ác

.)Tóc màu vàng dựng đứng lên trên còn đại biểu cho Phật Đức triển chuyển tăng lên trên

.)Ba con mắt đại biểu cho năng lực của ba loại thanh tịnh là Thân kết Ấn, miệng tụng Chú, Ý quán tưởng

.)Mão năm đầu lâu đại biểu cho năng lực trừ bỏ năm Độc: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi

.)Năm vật trang sức đại biểu cho sự thanh tịnh thuộc năm Trí của năm Đức Phật

Vòng đeo tay đại biểu cho Pháp Giới Thể Tính Trí của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na ở trung ương

Vòng đeo trên đầu đại biểu cho Đại Viên Kính Trí của Đức Phật Bất Động ở phương Đông

Vòng đeo tai đại biểu cho Diệu Quán Sát Trí của Đức Phật A Di Đà ở phương Tây

Vòng đeo cổ đại biểu cho Bình Đẳng Tính Trí của Đức Phật Bảo Sinh ở phương Nam

Dây đai ở eo đại biểu cho Thành Sở Tác Trí của Đức Phật Bất Không Thành Tựu ở phương Bắc

.)16 vật cầm tay đại biểu cho 16 loại Không Tính (Śūnyatā) là: Nội Không, Ngoại Không, Nội Ngoại Không, Không Không, Đại Không, Thắng Nghĩa Không, Hữu Vi Không, Vô Vi Không, Vô Tế Không, Tất Cánh Không, Vô Tán Không, Tự Tính Không, Nhất Thiết Pháp Không, Tự Tướng Không, Vô Sở Duyên Không, Vô Tính Không.

.) Dẫm đạp lên hai thân người nằm ngửa đại biểu cho sự dứt trừ Vô Minh và Ái Dục.

_Tượng Song Thân:

Thân của Chủ Tôn giống như bên trên, hai tay ôm Minh Phi Vô Ngã (Nairatmya) có thân màu xanh xám, tay phải cầm cái rìu Kim Cương, tay trái cầm cái bát sọ người. Hai Tôn thực hiện theo thế Song Vận Đại Lạc như điệu múa, chân dẫm đạp lên bốn thân người, an trụ tại vành mặt trời trên hoa sen

Ý nghĩa của hình tượng:

.)Ý nghĩa hình tượng của Chủ Tôn giống như bên trên

.)Chân đạp lên bốn người đại biểu cho sự đập nát bốn loại Ma: Đại Phạm Thiên màu vàng, Đế Thích Thiên màu trắng, Biến Nhập Thiên màu xanh, Đại Tự Tại Thiên màu đen… Đồng thời cũng đại biểu cho bốn Nhiếp Pháp nhiêu ích cho chúng sinh là: Bố Thí Nhiếp, Ái Ngữ Nhiếp, Lợi Hành Nhiếp, Đồng Sự Nhiếp

.)Chín tướng múa đại biểu cho 9 loại dáng điệu múa hay giáng phục đủ Tham Dục, Ngu Si là: sự kiều mỵ, dũng mãnh, xấu xí (xú lậu)… thuộc tư thế của Thân. Sự vui cười, mãnh lệ, đáng sợ …thuộc dáng dấp của Ngữ. Sự thương xót (bi mẫn), uy hách, bình hòa thuộc dáng dấp của Ý

.)Nhục Thể (thân thể) đại biểu cho sự an trụ chẳng động của Đại Địa

.)Huyết Dịch (máu và chất lỏng trong thân) đại biểu cho sự tuyền chuyển tự tại của Thủy Đại

.)Tân dịch (nước bọt) đại biểu cho sự thiêu trừ bụi nhiễm cấu chướng của Hỏa Đại

.)Chi Tủy (mỡ, tủy) đại biểu cho sự tạo làm các Pháp của Phong Đại

.)Bì Phu (phần da bên ngoài) đại biểu cho sự hay đạt đến cảnh giới Giác Ngộ của bảy Giác Chi là: Niệm Giác Chi, Trạch Pháp Giác Chi, Cần Giác Chi, Hỷ Giác Chi, Khinh An Giác Chi, Định Giác Chi, Xả Giác Chi

.)Bộ Xương đại biểu cho sự thanh tịnh của bốn Thánh Đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo…hay chặt đứt phiền não, chứng Niết Bàn

Trong Tôn Tượng Song Thân này thì Minh Phi Vô Ngã biểu thị cho Trí Tuệ trác việt siêu phàm, Cát Tường Hỷ Kim Cương biểu thị cho lòng Từ Bi bao trùm Pháp Giới. Hình tượng này minh chứng cho cảnh giới tinh thần Bi Trí hợp nhất

_Chữ chủng tử của Cát Tường Hỷ Kim Cương là: HŪṂ

_Thủ Ấn là: Hai tay chắp lại, trỗng rỗng ở giữa, co hai ngón cái vào trong lòng bàn tay đèn lên hai ngón Vô Danh

(xem hình trong file PDF)

_Cát Tường Hỷ Kim Cương Tâm Chú

Ông, đế ngõa, tất chủ, ngõa nhật lạp, hồng hồng hồng, phát tra, thoa cáp

OṂ_ DEVA  PICU  VAJRA, HŪṂ  HŪṂ  HŪṂ  PHAṬ,  SVĀHĀ

(xem hình trong file PDF)

_Cát Tường Hỷ Kim Cương Đàn Thành:

Chính giữa Đàn Thành là một đóa hoa sen tám cánh, ở giữa là Cát Tường Hỷ Kim Cương với Vô Ngã Phật Mẫu. Chung quanh Cát Tường Hỷ Kim Cương là tám vị Đại Minh Phi (Mahā-yoginī): Ngao Lý Phi (Gaurī), Tưu Lý Phi (Caurī), Vĩ Đa Lý Phi (Vettalī),Khát Tam Ma Lý Phi (Ghasmarī), Bốc Cát Tây Phi (Pukkasī), Thập Phộc Lý Phi (Śavarī), Tán Noa Lý Phi (Caṇḍalī), Nỗ Nhĩ Tỳ Phi (Raudrī),

Bên ngoài Mạn Trà La (Maṇḍala) từ bên ngoài đến bên trong là bánh xe rực lửa Bát Nhã, bánh xe hoa sen, bánh xe Kim Cương và tám rừng Thi Đà lớn. Trong tám rừng Thi Đà lớn có tháp Phật, con sông, sư tử, Thiên Thần, cây cối, mây, Long Vương…. Bốn cửa ở bốn phương đều có Thủ Hộ Thần

Chủ Tôn của Đàn Thành (Maṇḍala) tức Cát Tường Hỷ Kim Cương là một trong năm Đại Bản Tôn (Thủ Hộ Tôn) của Vô Thượng Du Già Mật trong Tạng Truyền Phật Giáo, là Pháp tu cơ sở Nhập Môn của Phái Tát Ca (Hoa Phái). Người mới học theo Phái Tát Ca đều nên trước tiên đắc được Quán Đỉnh này thì mới có thể tiếp tục khởi tu Mật Tục khác. Lại do Hỷ Kim Cương lại là chỗ Thân Truyền của Tất Lý Oát Ba (Virupa), bậc Tổ Sư Đại Thành Tựu của phát Tát Ca, cho nên Phái này dùng Pháp này gọp tập chung tất cả Mật Tục làm Nghi Quỹ Bất Cộng tối cao

Ngoài ra, ở bốn phương chung quanh Đàn Thành, trong các cái khám cũng có an trụ 26 Tôn Tượng phân biệt là Vô Ngã Phật Mẫu, Văn Thù Bồ Tát, Tất Lý Oát Ba (Virupa), Hạ Oa Lý Ba, chúng Yoginī, tám Thiên Mẫu, mười Tôn Phẫn Nộ, Độ Mẫu…của 84 bậc Đại Thành Tựu

(xem hình trong file PDF)

_Y theo Hô Kim Cương Hằng Trì La Đại Tương Ứng Luân Phẩm ghi nhận Cát Tường Hỷ Man Trà La là: “Man Trà La này dùng Hỷ Kim Cương (Heruka) với Vô Ngã Minh Phi làm Trung Tôn (Tôn ở chính giữa), bốn chung quanh hiển bày 8 vị Minh Phi (Yoginī)

Ngao Lý Phi (Gaurī) ở phương Đông

Tưu Lý Phi (Caurī) ở phương Nam

Vĩ Đa Lý Phi (Vettalī) ở phương Tây

Khát Tam Ma Lý Phi (Ghasmarī) ở phương Bắc

Bốc Cát Tây Phi (Pukkasī) ở Đông Nam

Thập Phộc Lý Phi (Śavarī) ở Đông Bắc

Tán Noa Lý Phi (Caṇḍalī) ở Tây Bắc

Nỗ Nhĩ Tỳ Phi (Raudrī) ở Tây Nam

_Theo sự truyền thừa khác thì Cát Tường Hỷ Kim Cương Đàn Thành được ghi nhận là:

Cát Tường Hỷ Kim Cương là Chủ Tôn ở chính giữa, chung quanh là tám vị Minh Phi: Ngao Lý Phi (Gaurī), Tưu Lý Phi (Caurī), Vĩ Đa Lý Phi (Vettalī),Khát Tam Ma Lý Phi (Ghasmarī), Bốc Cát Tây Phi (Pukkasī), Thập Phộc Lý Phi (Śavarī), Tán Noa Lý Phi (Caṇḍalī), Nỗ Nhĩ Tỳ Phi (Raudrī), bên trên là Không Hành Phi (Khacarī)  , bên dưới là Địa Cư Phi (Bhūcarī)

28/03/2014

https://kinhmatgiao.wordpress.com


Danh mục

%d bloggers like this: